chiến đấu để bảo vê ̣ ma ̣ng sống cho chı́nh mı̀nh. Tu ̣i mı̀nh có quyền làm bất
cứ thứ gı̀ để giành đươ ̣c thắng lơ ̣i.>
<Có thể tu ̣i mı̀nh thành công, nhưng cũng có thể tu ̣i mı̀nh sẽ thất ba ̣i,> tôi
nói. <Nhưng giả sử như tu ̣i mı̀nh chiến thắng và mô ̣t ngày nào đó, mo ̣i sự
đều kết thúc, ta nên hy vo ̣ng rằng còn có rất nhiều người giống như Cassie
vẫn còn tồn ta ̣i trên thế giới thı̀ hơn. Ta nên hy vo ̣ng rằng không phải ai
cũng chấp nhâ ̣n viê ̣c phải làm bất cứ điều gı̀ cốt để giành chiến thắng.>
Cả bo ̣n lă ̣ng lẽ bay. Sự im lă ̣ng thâ ̣t đáng sơ ̣. Tôi hiểu vẻ trầm tư của
Ax. Đây là vấn đề giữa loài người với nhau, không phải viê ̣c của ảnh. Tôi
hiểu vẻ giâ ̣n hờn của Rachel. Nhỏ cảm thấy bi ̣ buô ̣c tô ̣i bất nhẫn so với
Cassie…
Sau chút nghı̃ ngơ ̣i, tôi hiểu Tobias. Là con người phải sống trong thân
xác diều hâu, Tobias luôn chú tâm gı̀n giữ những tiêu chı́ đa ̣o đức của loài
người. Tobias trân tro ̣ng lòng nhân từ, bởi vı̀ cái đó không hề tồn ta ̣i trong
thế giới câ ̣u ấy đang phải sống.
Tôi hiểu Marco. Marco là mô ̣t trong những người nhảy thẳng đến kết
luâ ̣n, không mô ̣t chút đắn đo hay suy đoán. Có thể nói, câ ̣u ấy rất tinh ranh.
Rất hiê ̣u quả. Ba ̣n có thể nghı̃ là câ ̣u ấy tàn nhẫn. Nhưng câ ̣u ấy không đê
tiê ̣n hay đô ̣c ác. Câ ̣u ấy chı̉ tı̀m đường đi từ điểm A đến điểm Z nhanh hơn
những người khác mà thôi.
<Vâ ̣y, chúng ta sẽ làm gı̀ khi tới đó?> Rachel hỏi sau mô ̣t hồi lă ̣ng im.
<Anh không biết> tôi thú thâ ̣t. <Chúng ta hãy cứ tı̀m ra Cassie đã rồi
hẵng hay.>
<Em thấy nhỏ rồi> Rachel la lên <Nhı̀n con ó biển đang ngóc ra khỏi
rừng cây kia kı̀a. Cassie đó.>
<Mı̀nh cũng thấy rồi,> Tobias nói.
Tất cả chúng tôi đều thấy. Và chúng tôi cũng biết con ó biển đã trông
thấy mı̀nh.