CHƯƠNG 13
T
u ̣i tôi ho ̣p mă ̣t trong khu rừng râ ̣m bao quanh Trung Tâm Cô ̣ng Đồng
bao gồm sân chơi các khu vực dành cho các cuô ̣c vui chơi ngoài trời. Tu ̣i
tôi vẫn ở trong lốt chim, chủ yếu là vı̀ vấn đề an ninh, đâ ̣u rải rác trên các
nhánh cây, đứa này cách đứa kia dăm bảy mét.
<Nói cho tu ̣i nó biết đi Rachel,> Cassie nói với tôi bằng gio ̣ng truyền
riêng. <Nếu bồ không nói, mı̀nh sẽ nói. Nhưng người thông báo nên là bồ.>
<Mı̀nh biết, mı̀nh biết,> tôi gầm gừ. <Mı̀nh biết mà.>
Marco nheo că ̣p mắt ó biển ngó từ tôi qua đến Cassie. Từ chỗ tôi đâ ̣u,
tôi chı̉ đơn thuần có thể nhı̀n thấy Ax, trong lốt diều mướp quen thuô ̣c của
ảnh. Tobias…
<Người đàn ông,> tôi cất lời, <ở trường quay sáng nay. Người mà
Tobias trông thấy bi ̣ té ı́ mà. Ổng chết rồi.>
<Bởi mô ̣t cơn đau tim,> Cassie nhe ̣ nhàng bổ sung. <Đó là tất cả những
gı̀ tu ̣i mı̀nh biết đươ ̣c.>
<Người đó chết là do chẳng may. Ừ, cái chết ấy có thể tránh khỏi.
Nhưng điều đó không làm thay đổi đươ ̣c thực tế đã xảy ra.> Ax nhâ ̣n xét.
<Tobias?>
Tôi thấy vui vı̀ Cassie hỏi suy nghı̃ của Tobias. Tôi hổng chắc là mı̀nh
có thể mở lời với câ ̣u ấy. Tôi cảm thấy… hổng thoải mái. Câ ̣u ấy đã nhı̀n
thấy trước những vấn đề tiềm ẩn trong kế hoa ̣ch của tôi. Câ ̣u ấy đã kêu tôi
ra lê ̣nh cho cả bo ̣n rời khỏi trường quay. Tôi đã hổng chi ̣u, bởi tôi đã có
mô ̣t khoảng thời gian quá ư là khoái chı́ mà.
<Đến giờ, mo ̣i viê ̣c đã rõ ràng,> Tobias nói vo ̣ng xuống từ nhánh sồi
cao – nơi mà câ ̣u ấy có thể trông chừng an ninh cho cả nhóm. Câ ̣u ấy hổng
đô ̣ng cha ̣m gı̀ tới ông già đã chết. Câ ̣u ấy thâ ̣m chı́ còn hổng nhı̀n tôi hay
nói lời chia buồn – tất cả là vı̀ tôi.
<Nè,> tôi đô ̣t nhiên nổi sùng, <đó hổng phải là lỗi của mı̀nh. Tất cả
chúng ta đều nhất trı́ thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ này. Hổng ai ép buô ̣c ai cả. Tất cả
đều đồng ý tham gia. Đâ ̣p chúng tơi tả, khiến chúng sơ ̣ hãi, tấn công, tấn
công, tấn công dồn dâ ̣p. Mı̀nh lấy làm tiếc vı̀ ông lão đó đã chết, nhưng…>
<Rachel,> Cassie ngắt lời tôi. <Không ai nói đó là lỗi của bồ cả.>