Nguyên người huyện Phúc An tỉnh Biên Hoà. Có công theo sang Vọng
Các, từng làm quan đến Tổng nhung cai cơ tiền quân.
Năm Canh Tuất, theo Lê Văn Quân đi đánh Bình Thuận, mùa thu năm ấy,
ốm chết ở quân thứ, được tặng Chưởng cơ, được bày thờ vào 2 miếu Hiển
trưng, Trung hưng công thần; cùng ở hạng nhì về công theo sang Vọng Các
và được cấp phu coi mộ.
Tôn Thọ Vinh
Người huyện Bình Dương tỉnh Gia Định, là thuộc hạ của Nguyễn Văn
Tính, lúc đầu được bổ Cai đội.
Năm Giáp Thìn, dự theo sang Vọng Các, đến khi về Gia Định được bổ
Khâm sai tổng binh
Năm Giáp Dần, đổi bổ làm Chánh trưởng chi chi Kiến vũ ở trung quân coi
giữ ba đạo Phố Hài, Phan Thiết, Vị Nê, rồi thăng Phó thắng hậu đồn quân
Thần sách. Vinh từng theo việc chiến trận, có nhiều chiến công, thăng đến
Phó đô thống chế ở hậu doanh.
Năm Canh Thân, Vinh tạm coi quân Tiên phong đánh nhau với giặc ở La
Thai, rồi ốm chết ở quân thứ, được tặng Chưởng doanh, thờ vào đền Hiển
trung ở Phú Yên; lại được bày thờ vào đền Hiển trung ở Gia Định.
Gia Long năm thứ 6, định công theo sang Vọng Các, Vinh ở hạng nhì, được
cấp phu coi mộ.
Năm thứ 9, Vinh được bày thờ vào miếu Trung hưng công thần.
Con của Vinh: con trưởng là Thọ Minh, được ấm thụ Phi kỵ uý, làm quan
Cai đội; con thứ là Thọ Đức, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ. Minh Mạng năm thứ
2, từng làm quan đến tuần phủ Thuận Khánh, chết ở nơi làm quan.