Người huyện Nghi Xuân, trấn Hà Tĩnh, là con Xuân quận công đời Lê
Nguyễn Nghiễm, và là em Tham tụng Nguyễn Khản; Du là con nhà tướng,
có văn tài sẵn khí tiết, không chịu theo giặc. Gia Long sơ, bổ làm Tri phủ
Thường Tín, rồi vì ốm xin cáo từ; Năm thứ 5, triệu bổ Đông các học sĩ;
Năm thứ 8, ra làm Cai bạ Quảng Bình, trị dân có chính tích; Năm thứ 12,
thăng Cần chính điện học sĩ, sung Chánh sứ sang nước Thanh tuế cống, đến
khi về, thăng Hữu tham tri bộ Lễ.
Minh Mạng năm thứ 1, lại có mệnh đi sứ, chưa đi thì chết. Thánh Tổ Nhân
Hoàng đế rất tiếc, cho 20 lạng bạc, hai cây gấm tàu, khi đưa tang về cho
thêm 300 quan tiền. Du là người ngạo nghễ tự phụ, mà bề ngoài tỏ ra kính
cẩn, mỗi khi vào yết kiến có vẻ sợ hãi như không nói được. Vua thường bảo
rằng: "Nhà nước dùng người, chỉ cần người hiền, vốn không phân biệt Nam
Bắc, ngươi cùng với Ngô Vỵ đã được đối đãi hậu, làm quan đến Á khanh,
nên biết thì phải nói để hết chức phận, khá nên do dự rụt rè chỉ cốt dạ vâng
làm gì".
Du rất giỏi về thơ, làm thơ quốc âm rất hay, khi sang sứ nước Thanh về, có
tập thơ "Bắc hành" và truyện "Thúy Kiều" lưu hành ở đời. Du trước vì gia
thế làm quan nhà Lê, gặp loạn Tây Sơn không có chí lại ra giúp đời nữa,
còn tự ý đi chơi săn bắn núi Hồng Sơn 99 ngọn, vết chân hầu khắp. Khi bị
lệnh triệu không thể từ được mới ra làm quan, thường phải chịu khuất với
cấp trên, lấy làm uất ức bất đắc chí. Đến khi bệnh kịch, không chịu uống
thuốc, sai người nhà mở duỗi chân tay, nói đã lạnh cả, Du bảo rằng: "Tốt",
nói xong thì chết, không nói một câu nào đến việc sau khi chết. Du có hai
em là Thảng và Sóc đều có tài nghệ hiển đạt; Thảng chữ viết chân phương,
có tiếng viết tốt, lúc đầu sung vào viện Hàn lâm, khoảng năm Minh Mạng
thăng Thị lang bộ Công; Sóc có tứ khéo, khoảng năm Gia Long làm Thiêm
sự bộ Công, từng trông coi Võ khố.
Ngô Vị