Liê ̣u bồ có ý kiến nào hay hơn không?>
<Không, nhưng bồ làm cách nào la ̣i gần đươ ̣c mô ̣t trong mấy con này để
thâu na ̣p ADN vâ ̣y?>
<Hai con trong bầy tê giác đã ra tuốt ngoài rı̀a của khu thú. Khách tham
quan có lẽ không thấy chúng rõ đâu.>
<Bồ đi ̣nh xông thẳng vào đó á?>
<Không còn thời gian để tı́nh cách khác nữa đâu, Tobias.>
<Má ơi! Jake, ı́t ra bồ cũng để mı̀nh làm phân tán mo ̣i người chút đı̉nh
chứ?>
<Đươ ̣c! Nhưng cố bảo tro ̣ng nha. Bồ nghe rõ chưa? Không đươ ̣c để bi ̣
sao đấy!>
Tobias lâ ̣p tức biến mất tăm, còn tôi thả mı̀nh xuống từ từ, giống như đi
xuống mô ̣t chiếc cầu thang xoắn. Tôi nhắm thẳng cái lưng của con tê giác
lớn nhất. Tôi xòe hai cánh, đưa vuốt ra phı́a trước, và cố đáp xuống lưng
nó thâ ̣t êm.
Con thú khổng lồ chı̉ thấy nhồn nhô ̣t.
Tôi đứng đó, đánh đu trên lưng con tê giác, các vuốt của tôi bám khẽ
vào lớp da xám nhăn nheo và dày cui của nó. Ổn rồi. Nhưng tôi không thể
thâu na ̣p ADN ở da ̣ng biến hı̀nh đươ ̣c. Tôi phải hoàn hı̀nh la ̣i thành người
để làm viê ̣c đó. Và điều này mới thực sự gay go.
Tôi nhı̀n lên thanh chắn cao bên trên, nơi người ta đang ngắm nghı́a
những con tê giác lang thang. Với nhãn quan chim ưng, tôi thấy ho ̣ ở gần
đến không ngờ. Tôi có thể thấy cả màu mắt của ho ̣, thấy cả chiếc huy không
cài trên áo mô ̣t tên nhóc. Nhưng dı̃ nhiên là ho ̣ chı̉ có những con mắt người
và vı̀ vâ ̣y không thể thấy rõ đươ ̣c như tôi…
Không thành vấn đề đâu, tôi nghiêm khắc tự nhủ. Không còn thời gian
để mà lo lắng nữa đâu. Làm đi thôi.
Tôi bắt đầu hoàn hı̀nh trên lưng con tê giác. Những sơ ̣i lông chim ưng
của tôi chảy ra và dı́nh kết la ̣i, mất đi những đường nét hı̀nh ho ̣c thon thả.
Các vuốt của tôi cùn đi, dày lên, lóng ngóng hơn và những ngón phu ̣ trô ̣i
bắt đầu mo ̣c ra. Tôi nghe những tiếng cót két khi bô ̣ xương người của tôi
bắt đầu duỗi ra từ khung xương rỗng của chim.