Nhưng giờ đây, mỗi khi tôi cố gắng nhớ về ho ̣, tôi chi ̣u không tài nào phân
biê ̣t đươ ̣c những ký ức của tôi là thực hay là do tôi dựng lên nữa.
Đôi lúc tôi cũng tự hỏi liê ̣u rằng đó có phải là mô ̣t ảo giác hay không;
mà là tôi chưa hề có mô ̣t người cha và mô ̣t người me ̣; và rằng tôi chưa bao
giờ là mô ̣t con người.
Tôi là mô ̣t sinh vâ ̣t kı̀ di ̣ trong tự nhiên. Không, cũng chẳng phải vâ ̣y.
Me ̣ Tư ̣ nhiên và cái điều sai lầm nhất của bà cũng chẳng ta ̣o ra tôi. Tôi là
con quái vâ ̣t do công nghê ̣ ta ̣o ra. Công nghê ̣ của người ngoài hành tinh.
Tôi là mô ̣t con chim với ý thức của mô ̣t thằng bé loài người. Hay tôi là
mô ̣t thằng bé trong hı̀nh hài mô ̣t con chim. Cũng thế thôi, người phu ̣ nữ mà
tôi đang nhı̀n xuyên qua tấm kı́nh, người mà lúc này đang chı̉nh kênh TV
bằng cái điều khiển và dừng la ̣i ở đài CNN, người phu ̣ nữ đó không biết
tôi.
Không biết tôi trước đây hay cả tôi thực sự bây giờ.
Nga ̣c nhiên chưa, hỡi bà chi ̣ ho ̣ Aria, đứa em nuôi của chi ̣ là mô ̣t con
diều hâu đuôi đỏ.
<Này, Tobias à, này, tu ̣i mı̀nh tı̀m hiểu vu ̣ này sao đây?> Rachel hỏi.
<Cái gı̀ cơ? Ồ. Mı̀nh cho là tu ̣i mı̀nh cứ đi theo chi ̣ ấy. Theo dõi. Quan
sát. Nếu chi ̣ ta là kẻ Mươ ̣n xác thı̀ ắt hẳn chi ̣ ta phải tới vũng Yeerk trong
vòng ba ngày.>
<Mı̀nh đâu có thể theo sát cô ta hoài đươ ̣c.>
<Có thể mı̀nh không thể theo sát,> tôi thừa nhâ ̣n. <Nhưng biết đâu nhiêu
đó cũng đủ để giúp tu ̣i mı̀nh có thể phát hiê ̣n ra đươ ̣c điều gı̀ đó thı̀ sao.
Nhı̀n kı̀a!
chi ̣ ấy
có điê ̣n thoa ̣i kı̀a.>
<Nom cô ta có vẻ bối rối. Giờ thı̀ cô ta… phấn khı́ch. Đó, cô ta đi
kı̀a!>
Aria…
nếu đó là Aria...
đeo chiếc máy chu ̣p hı̀nh
lên
vai,
dừng la ̣i
trước mô ̣t tấm gương
toàn thân, sửa sang la ̣i tóc tai và quần áo mô ̣t cách kỹ
lưỡng.
<Khỏi cần lo về bô ̣ tóc của cô,> Rachel xiên xỏ, <mà hãy làm gı̀ với bô ̣
váy đó đi kı̀a.>
Tôi bâ ̣t cười. Nhưng cùng lúc đó, có mô ̣t thứ gı̀ đó mà tôi vừa trông