của hải quân, thả phao radar xuống rồi truyền tải những gı̀ tiếp nhâ ̣n đươ ̣c
cho chı̉ huy tàu Đao Phủ Biển.
Chứng kiến cảnh Yeerk khống chế máy bay hải quân thı̀ thâ ̣t đau lòng.
Nhưng như thế la ̣i hóa may cho tôi: nó làm châ ̣m bước tàu Đao Phủ Biển.
Tôi lă ̣n xuống, đi ̣nh vi ̣ tiếp và thấy hı̀nh thù tàu Đao Phủ Biển. Thâ ̣t rõ
ràng không lẫn vào đâu đươ ̣c. Tôi đánh võng mô ̣t vòng, tı̀m kiếm…
Khoan đã! Có gı̀ đó không ổn. Cá voi à?
Tàu Đao Phủ Biển đã biến đi đâu mất tiêu. Thay thế vào vi ̣ trı́ đó là
hı̀nh chiếu mô ̣t con cá voi khổng lồ. Cá voi lưng gù. Có lẽ là cá voi xanh.
Ngay boong chỗ tàu Đao Phủ Biển đã đâ ̣u lúc trước.
Có chuyê ̣n gı̀ vâ ̣y?
Mô ̣t cái bướu. Âm thanh của đô ̣ng cơ. Con tàu đã đi khỏi. Chăm chú
lắng nghe, tôi phát hiê ̣n tiếng đô ̣ng cơ đã trở thành tiếng thùy đuôi cá voi
quẫy phu ̣t phu ̣t, lái con quái vâ ̣t di chuyển trong biển cả.
Rồi… đằng sau tôi! Mô ̣t cái gı̀ đó nhanh, bự! Không chı̉ có mô ̣t…
Trı́ não cá voi của tôi nhâ ̣n ra ngay lâ ̣p tức: mô ̣t bầy cá voi sát thủ.
<Hây! Bồ tèo! Tui nè.> Gio ̣ng Marco vang ầm trong đầu tôi.
<Mo ̣i người ở đây cả chứ?> Tôi hỏi.
<Ừ. Không tin nổi là tu ̣i này tı̀m ra bồ.>
<Tàu Đao Phủ Biển đâu rồi?> Rachel nhóng hỏi.
<Nếu mấy bồ đi ̣nh vi ̣ mà nhâ ̣n thấy mô ̣t con cá voi khổng lồ vừa rời
khỏi đây thı̀ đó là, thưa các chiến hữu, con tàu mới của Visser Ba đấy.>
<Đúng, có thể cảm biến đươ ̣c nó,> Ax đồng tı̀nh. <Chúng không chı̉ lẩn
trốn mà còn ta ̣o ra hı̀nh ảnh giả để đánh lừa những ai tı̀nh cờ thấy chúng.
Chắc chắn chúng đã điều chı̉nh trường hấp thu ̣ năng lươ ̣ng để phản hồi
thành mô ̣t bức tranh cá voi.
Ta ̣o ra tı́n hiê ̣u âm thanh thı̀ dı̃ nhiên là dễ rồi.>
<Thời cơ chı́n muồi cho cuô ̣c đô ̣t kı́ch bất ngờ,> Rachel hăng tiết. <Tu ̣i
mı̀nh giống như tru ̣c gỗ phá thành. Chắc hẳn chúng đang vênh váo, tự phu ̣
lắm.>
<Thêm nhiều tru ̣c gỗ nữa nhâ ̣p bo ̣n. Nhı̀n coi ai đang tới kı̀a,> Tobias la
lên.
Hai con cá voi sát thủ. Không phải do người biến thành, mà là cá voi