7. Trung Quốc không được bắt giữ những phần tử Hán gian
phục vụ cho Nhật Bản.
Sau khi “Điều ước Mã Quan” ký kết, tin tức đã truyền đến Đài
Loan. Nhân dân Đài Loan vô cùng căm phẫn, bà con nổi dậy bãi thị,
các thân sĩ, hào phú Đài Loan thì soạn thảo “thư bố cáo với thị dân
Đài Loan”, bày tỏ rằng “Tha là người người chiến đấu đến chết
mà vẫn mất Đài Loan chứ quyết không chịu cung kính dâng
nhượng Đài Loan”.
Tuần phủ Đài Loan Đường Cảnh Tung nhận được mệnh lệnh của
triều đình đành gạt nước mắt ra đi. Sau khi Đường Cảnh Tung trơ
về kinh, thị dân Đài Trung, Đài Nam và cả Đài Bắc đều căm hận
chủ nghĩa không kháng cự của triều đình. Nhân dân Đài Loan phản
kháng xâm lược, lũ lượt tổ chức “nghĩa dân quân” dưới sự lãnh đạo
của Ngô Thang Hưng, Từ Tương, liều mạng với quân Nhật. Những
Ngô Thang Hưng, Từ Tương theo chủ nghĩa yêu nước kia là người
Miêu Lật thuộc tỉnh Đài Loan, còn nguyên quán của Từ Tương là
Quảng Đông, xuất thân là học trò, thích đọc binh thư, hay tập luyện
võ nghệ cho nên hai người phối hợp rất tốt, ba con nhất trí
hưởng ứng, người thì quyên góp vũ khí, người thì quyên góp lương
thực, người lại quyên góp tiền, những thanh niên khỏe mạnh thì
hăng hái tòng quân. Họ vùng dậy phản kích ở Tân Trúc, kiên trì hơn
một tháng trời, giết chết và bắt sống hơn trăm tên lính Nhật. Lúc
này tổng binh, quân Hắc Kỳ Quảng Đông Lưu Vĩnh Phúc cũng dẫn
một bộ phận binh sĩ tinh nhuệ đến, được mọi người cùng suy tôn là
thủ lĩnh quân dân kháng Nhật. Với sự phối hợp của hai tướng Từ,
Ngô, ông đã dụ địch tiến sâu vào suối Đại Giáp và Đài Trung, lập
được một chiến công lớn.
Từ Tương cuối cùng đã hy sinh oanh liệt. Ngô Thang Hưng và
Lưu Vĩnh Phúc thấy đại thế đã qua liền đi về Bạch Kiệt, không
biết cuối cùng ra sao.