DƯƠNG TỪ HÀ MẬU - Trang 114

1475.- Chẳng may bảng hổ vô danh,

Huyện quan cũng khỏi nho sanh chê cười,

Trần Đoàn nghe thấm mấy lời,

Dạy về lo liệu tới nơi khoa trường,

Chú thích:

Chánh : Chánh trị.
thìn lòng
: chủ được lòng mình.
của hoạnh
: Hoạnh tài : của nhờ thế lực mà được, không hợp lý,
Bỏ quên gốc cội, theo phăn ngọn ngành
: Đây giải lời sách Đại học : nói
bản mạt tu thân vi bản.
chử dạ
: ghi nhớ sâu sắc.
minh đức: là gốc, theo sách Đại học.
bốn dường chữ
: bốn lối viết chữ tàu : triện, lệ, chánh, thảo.
trùng dương
: mồng chín tháng chín.
lên kiếm núi, lánh đường họa tai
: ngày trùng dương, nhiều người xưa bắt
chước Đào Hoằng cảnh lên núi lánh tai họa,
dằn
: cái để chận cho vật được vững,
thanh thần
: thời buổi trong trẻo.
suối Son
: dịch chữ châu khê.
Đàn sắt, đàn cầm
: Chữ mao chữ điệt đều có chữ chữ lão ở trên ; chữ sắt
chữ cầm gồm có bốn chữ vương ở trên.
Lục Nga
: Thơ Lục nga trong kinh Thi : kể công ơn cha mẹ sanh ta rất cù
lao.
Hai mươi bốn thảo
: Chỗ nầy lẫn thì - Nhị thập Tứ hiếu do người đời
nguyên tên quách cư Nghiệp biên kể ; vả lại trong Nhị thập Tứ hiếu có
hoàng Sơn Cốc ở đời Tống Nguyên Hựu, sau đời Hậu tấn cả trăm năm.
Viết vào tấm vách rõ ràng tám câu
: Ngày xưa dạo chơi non nước, văn
nhân mặc khách hay đề vịnh như thế. Những câu văn dở làm bẩn cả chốn
đẹp.
ai hang
: Hang là huyệt. Ai chôn giùm ?
thu vi
: Vòng mùa thu. Vào mùa thu, mở trường thi hương, lấy gai rấp