chính thống) khi đề nghị Park loại bỏ Kim Jong-pil khỏi vị trí chủ tịch
DRP. Phái chống đối Kim Jong-pil trong DRP cũng xem Sự kiện ngày
3 tháng 6 như là một cơ hội để lật đổ Kim Jong-pil khỏi vai trò của
ông là người kế nhiệm thật sự của Park. Nỗ lực hạ bệ Kim được dẫn
dắt bởi các chính trị gia dân sự được Park tuyển vào từ Đảng Tự do
lúc bấy giờ đã tan rã. Bị chỉ trích bởi những người biểu tình như là
một kẻ phản bội chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc và bị tấn công bởi các
đối thủ của ông ở cả trong quân đội và DRP, Kim Jong-pil từ chức vào
ngày 4 tháng 6 và đi “tị nạn” nước ngoài. Sau khi biến Kim Jong-pil
thành bia đỡ đạn cho mình, Park ký kết hiệp ước bình thường hóa
quan hệ với Nhật Bản.
Bên cạnh đó, khi Park, chứ không phải Kim Jong-pil, trở thành mục
tiêu của sự bất mãn quân sự, Park ngay lập tức thẳng tay đàn áp những
người chống đối. Chẳng hạn như trường hợp hơn 20 sĩ quan, bao gồm
cả Won Chung-yeon, một sĩ quan cấp tá trong lực lượng dự bị và là
phát ngôn viên của Park trong những năm chính quyền quân sự, bị
CIC bắt giam vì tội âm mưu đảo chính quân sự vào tháng 5 năm 1965.
Không rõ những sĩ quan này âm mưu điều gì, nếu họ thật sự có âm
mưu. Tuy nhiên, báo cáo cho rằng họ đang gặp gỡ bí mật để trao đổi
các quan điểm chỉ trích cách thức cầm quyền chính trị của Park, bao
gồm việc gửi quân chiến đấu đến miền Nam Việt Nam, đã đủ khiến
Park phải hành động. Đối với Park, các ý định của Won Chung-yeon
và nhóm của ông này không quan trọng bằng cơ hội để từ sự kiện này
cho phép ông thiết lập kỷ cương lên các lực lượng vũ trang trước khi
tiến xa hơn với hoạt động gửi binh lính tham chiến đầy rủi ro chính trị.
Tình hình chính trị vốn đã căng thẳng, với xã hội bị phân cực trong
việc nghị viện phê duyệt dự luật bình thường hóa quan hệ với Nhật
Bản. Park đã tận dụng nỗ lực phản cách mạng được gán cho Won
Chung-yeon làm lý do để thắt chặt vòng kiểm soát chính trị. Vào ngày
26 tháng 8 năm 1965, Park viện đến một sắc lệnh quân đồn trú và
chính thức yêu cầu Sư đoàn Bộ binh 6 duy trì trật tự ở Seoul lần thứ