dinh thự của Phó Thống đốc… Mọi người bắt đầu cảm thấy khiếp sợ đúng
với tinh thần mà họ đang dấy lên, nhận thức được rằng cơn cuồng nộ tập thể
không dễ gì lèo lái được và mọi cá nhân đều sợ rằng mình có thể trở thành
nạn nhân tiếp theo của lòng tham xuất phát từ chính họ. Những nỗi sợ hãi
tương tự cũng lan rộng sang các tỉnh khác; và rất nhiều hình phạt được áp
dụng để ngăn ngừa các cuộc nổi loạn của người dân, trước khi họ bị kích
động.
Nhận xét của Gage đưa ra một gợi ý là lãnh đạo phong trào phản đối Đạo
luật Tem thuế đã xúi giục đám đông hành động, nhưng sau đó lại khiếp đảm
bởi ý nghĩ rằng đám đông đó cũng có thể chuyển hướng đối kháng với
chính sự giàu có mà họ đang sở hữu. Tại thời điểm đó, nhóm 10% đứng đầu
những người nộp thuế ở Boston chiếm giữ tới 66% tổng tài sản chịu thuế ở
Boston, trong khi đó nhóm 30% “đội sổ” trong số dân cư phải nộp thuế lại
chẳng có bất cứ tài sản nào đáng giá phải chịu thuế. Những người không có
tài sản không được phép bầu cử và tất nhiên (giống như người da đen, phụ
nữ, thổ dân Anh-điêng) không thể tham gia các cuộc họp tại Hội đồng thành
phố. Số này cũng bao gồm cả thủy thủ, thợ thuyền, thợ học việc và đầy tớ.
Dirk Hoerder, một sinh viên tham gia hoạt động nổi loạn ở Boston thời kỳ
Cách mạng, đã gọi lãnh đạo Cách mạng là “Những người con trai của Tự
do” (Sons of Liberty) − một tổ chức bí mật được thành lập để phản đối Đạo
luật Tem thuế bằng các biện pháp bạo lực − xuất phát từ lợi ích của tầng lớp
trung lưu và những thương gia giàu có…, một lớp lãnh đạo thiếu quyết
đoán, một mặt vừa muốn khuấy động phong trào để chống lại Liên hiệp
Vương quốc Anh, mặt khác lại lo lắng về cách kiểm soát được các đám
đông trong nước.
Do đó, cơn khủng hoảng Đạo luật Tem thuế đã khiến giới lãnh đạo nhận
thức được tình trạng khó xử. Một nhóm hoạt động chính trị tại Boston có
tên gọi là Loyal Nine (Chín người Trung thành) – bao gồm các thương gia,