LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ LÊ LỢI KHỞI NGHĨA ĐẾN NGUYỄN SUY VONG - Trang 18

CHƯƠNG II : THỜI KỲ THỐNG NHẤT

BÀI 4 : DÒNG LÊ PHỤC HƯNG

A) THỜI KỲ CƯỜNG THỊNH : TỪ LÊ THÁI-TỔ ĐẾN LÊ

HIẾN-TÔNG (1428-1504)

Lê Thái-tổ : Để hoà với nhà Minh, Bình-Định-vương (Lê-Lợi) tôn

Trần-Cao lên làm vua, lấy hiệu là Thiên-khánh. Khi chiến tranh chấm dứt,
Trần Cao bỏ trốn vào châu Ngọc-ma (thuộc phủ Trấn-ninh) nhưng bị quan
quân bắt về, phải tự thắt cổ mà chết.

Trần-Cao chết rồi, Bình-Định-vương lên ngôi hoàng-đế, tức Lê Thái-tổ,

niên hiệu Thuận-thiên, quốc hiệu là Đại-Việt

8

đóng đô ở Đông-kinh (Hà-

nội).

Khi đầu, nhà Minh không phong cho Lê Thái-tổ, bắt tìm con cháu nhà

Trần. Vua Thái-tổ bảo các quan viên và phụ lão trong nước làm tờ khai
« con cháu nhà Trần không còn ai ». Nhà Minh mới chịu phong Vương cho
Ngài. Từ đấy cứ 3 năm, một lần Đại-Việt phải cống nhà Minh hai người
vàng gọi là « Đại thân kim nhân »

9

. Xử trí như vậy chỉ vì Bình-Định-vương

muốn ôn hoà, tránh họa chiến tranh. Chứ thực ra người Tàu vẫn không xâm
phạm vào chủ quyền Đại-Việt.

Sau khi thăng thưởng cho các công thần, Lê Thái-tổ sửa sang mọi việc :

Việc học : Đặt trường Quốc-tử-giám ở Kinh-đô ; đặt thầy dạy học ở các

Phủ lộ. Mở khoa thi « Minh kinh » chọn nhân tài giúp nước.

Tôn giáo : Những người theo đạo Phật, đạo Lão, phải thi Kinh Điển

của đạo ấy. Ai thi trúng mới được phép làm tăng, đạo-sĩ… Thi hỏng phải về
tục làm ăn.

Pháp luật : Hình luật trong nước được sửa lại theo nhà Đường : đặt tội

xuy, tội trượng, tội đồ, tội lưu, tội tử

10

. Những người thuộc hạng Bát nghị

11

,

những người già từ 70 trở lên, trẻ từ 15 tuổi trở xuống, khi có tội được xét