là thúc đề)
(Từ đoạn 4 - đến 7) Bốn đoạn này đều mỗi đoạn chia làm 2 vế đối nhau.
Văn sách.
A) Định nghĩa – Sách nghĩa là mưu hoạch, văn sách là một bài văn làm để trả
lời những câu hỏi của đầu bài để tỏ kiến thức và mưu hoạch của mình. Văn sách
là một thể văn không có vần, thường thì có đối, nhưng viết thành văn xuôi cũng
được.
B) Văn sách mục và văn sách đạo. – Theo cách ra đầu bài, văn sách chia làm hai
loại:
1. Văn sánh mục: Đầu bài ra thật dài, đem hoặc một vấn đề hoặc nhiều vấn đề ra
hỏi. Trước hết nêu lên một câu phủ đầu bao quát cả ý nghĩa đầu bài gọi là đề án,
rồi ở dưới dẫn các lời trong kinh truyện và các việc trong lịch sử có liên lạc đến
đề mục ấy mà hỏi; cuối cùng hỏi một vài câu về thời sự cũng thuộc về đề mục
ấy.
2. Văn sánh đạo. - Đầu bài ra ngắn và hỏi riêng về từng việc.
C) Cách làm bài văn sách.- Lúc làm bài đáp lại, cứ theo từng câu hỏi trong đầu
bài mà trả lời lại, phải biện lý, dẫn chứng, giải thích sao cho vỡ vạc gãy gọn.
Lắm khi đầu bài hỏi lăng líu, câu nọ chẳng sang câu kia, thì lúc làm bài, hoặc
theo thứ tự các câu hỏi, hoặc đảo lên đảo xuống. liệu cách mà gở lần từng mối,
sao cho đáp khỏi thiếu ý mà cũng đừng thừa ý.
Chiếu, chế, biểu
A) Định nghĩa - Chiếu là lời của vua ban bố hiệu lệnh cho thần dân. . Chế là lời
của vua phong thưởng cho công thần. Biểu là bài văn của thần dân dâng lên vua,
để chúc mừng (hạ biểu) hoặc tạ ơn (tạ biểu) hoặc bày tỏ điều gì.
B) Cách làm chiếu chế, biểu, theo lối “tứ lục”
Ngày xưa ba lối ấy làm theo văn xuôi gọi là cổ thể: từ đời nhà Đường, mới làm
theo lối tứ lục gọi là cận thể (thể gần đây). Tứ lục (bốn sáu) cũng là một lối biền
văn, lối ấy gọi thế vì mỗi câu thường chia làm hai đoạn một đoạn 4 chữ, một
đoạn 6 chữ .
1) Cách đặt câu- Cứ hai câu đối nhau, gọi là hai vế. Mỗi vế chia làm hai đoạn,
hoặc trên 4 dưới 6, hoặc trên 6 dưới 4, hoặc có khi trên dưới đặt dài hơn số chữ
cũng được. Thí dụ:
Sớm chiều lo sợ, một lòng kính cẩn ban đầu: