xoáy trôn ốc rơi xuống.
<Câ ̣u làm trò gı̀ vâ ̣y?!> Jake gầm lên.
<Ơ… Hừm… Tớ bi ̣ bô ̣ não của con đa ̣i bàng kiểm soát mất mô ̣t phút,>
David nói.
<Không thể tin nổi là tớ la ̣i làm vâ ̣y! Tô ̣i nghiê ̣p con chim quá! Tớ chı̉
bi ̣ mất kiểm soát thôi mà.>
Có thể lắm chứ. Đôi khi thâ ̣t khó mà kiểm soát đươ ̣c bô ̣ não của con vâ ̣t
mà ba ̣n biến thành. Điều đó có thể xảy ra lắm chứ. Mấy đứa kia chắc cũng
tin hắn. Cassie an ủi hắn. Nhưng không hiểu sao tôi la ̣i có linh cảm rằng
David nói dối. Có lẽ cũng vı̀ tôi là mô ̣t chuyên gia nói dối, nên tôi luôn
nhâ ̣n ra đươ ̣c mô ̣t lời nói dối. David đã giết con qua ̣ đó. Hắn cố tı̀nh. Hắn
đã giết con qua ̣ mô ̣t cách la ̣nh lùng, chả có lý do gı̀ cả.
<Ê, nhı̀n kı̀a!> Tobias nói. <Có mô ̣t chiếc trực thăng đang tiến đến phı́a
dưới tu ̣i mı̀nh. Trực thăng của Hải quân đấy. Nó... waa. Đây hẳn là chiếc
Hải quân Mô ̣t!>
<Hải quân gı̀ cơ?> Rachel hỏi.
<Bồ từng nghe nói tới Không lực Mô ̣t chưa, chuyên cơ của Tổng thống
ı́? Hải quân Mô ̣t là trực thăng riêng của Tổng thống,> Tobias cắt nghı̃a.
<Rành quá ha, Tobias> Rachel nga ̣c nhiên thốt lên.
Tôi ro ̣i đôi mắt ó biển vào chiếc trực thăng. Nó đang bay theo hướng từ
sân bay tiến thẳng đến khu khách sa ̣n. Mô ̣t chiếc trực thăng thứ hai cùng
loa ̣i, bay ở phı́a sau nó chừng mô ̣t dă ̣m. Mô ̣t chiếc làm mồi du ̣… nếu như
“mồi” không phải là chiếc bay đầu.
Rồi tôi chơ ̣t nhâ ̣n ra mô ̣t thứ khác. Mô ̣t vâ ̣t mờ ảo ở trên không, phı́a
bên trên và đằng sau chiếc trực thăng. Giống như không khı́ hơi xáo trô ̣n
chút đı̉nh. Gần giống như các sóng nhiê ̣t dâng lên từ nhựa đường nóng.
Cả Tobias cũng nhâ ̣n ra nó <Má ơi! Thứ này mı̀nh từng thấy rồi mà!>
<Có chuyê ̣n gı̀ vâ ̣y?> David hỏi.
<Công nghê ̣ tàng hı̀nh của bo ̣n Yeerk,> Ax lă ̣ng lẽ nói. <Mắt người
không nhâ ̣n ra đươ ̣c đâu. Ra đa của loài người cũng không dò đươ ̣c nó.
Nhưng những con mắt của mấy loài chim săn mồi này đúng là tốt thâ ̣t. Và
công nghê ̣ của bo ̣n Yeerk, thực ra, cũng không hẳn giống công nghê ̣ của