CHƯƠNG 20
T
u ̣i tôi lao sầm sâ ̣p về phı́a sàn tàu. Những ha ̣t bu ̣i li ti giờ bự như
những hòn đá tảng, khiến sàn tàu kim loa ̣i láng o bỗng trở nên mấp mô như
bề mă ̣t bông cải.
Tôi đang nhı̀n tất cả mo ̣i thứ bằng că ̣p mắt ruồi. Hàng trăm màn hı̀nh
tivi, mỗi cái nhı̀n cùng mô ̣t cảnh với mô ̣t góc chı̉ khác nhau mô ̣t chút xı́u.
Màu sắc thâ ̣t quái di ̣. Hı̀nh ảnh khi nào cũng vâ ̣y đó mỗi khi ba ̣n ở trong lốt
ruồi. Nhưng giờ thı̀ tôi không chı̉ nhı̀n mo ̣i thứ chı̉ từ că ̣p mắt ruồi không
thôi, mà là că ̣p mắt của mô ̣t con ruồi siêu tı́ ni ̣.
Mô ̣t bàn tay Helmacron bành ky từ thiên đàng thò xuống toan tóm lấy
tôi. Nhưng khi nó càng gần thı̀ tôi càng teo nhỏ đi, gần như là vô hı̀nh.
<Aaaahhhh!> Tôi kinh hãi rú lên.
<Ôi trời đất ơi!> Marco hét toáng lên. <Giờ ho ̣c sinh vâ ̣t chắc!>
Mô ̣t bức tường tế bào lờ phờ đu đưa trước mă ̣t tu ̣i tôi. Bàn tay
Helmacron vẫn mải miết khua khoắng. Các tế bào ngón tay nhı̀n như những
viên ga ̣ch của mô ̣t bức tường - những viên ga ̣ch bự hơn tu ̣i tôi nhiều.
Có tế bào trong suốt đến nỗi thấy cả cấu ta ̣o bên trong, có cái thı̀ mờ
đu ̣c, có cái la ̣i sáng mô ̣t cách kỳ di ̣. Chúng hê ̣t những túi plastic chứa đầy
chất keo màu hồng nha ̣t gồm ha ̣t nhân, chất nguyên sinh, ty la ̣p thể, không
bào… - những thành phần ta ̣o nên tế bào.
<Ồ, xem ra đây là ribosome
[13]
,> Marco nói lào khào. <Y hê ̣t trong
sách giáo khoa vâ ̣y đó.>
Chầm châ ̣m, bức tường tế bào lùi dần, bỏ la ̣i hai con ruồi nhỏ như từng
thấy - nhỏ hơn cả tế bào da nữa…
<Ờ, chúng không thể bắt tu ̣i mı̀nh đươ ̣c,> Marco nói. <Nhưng giờ tu ̣i
mı̀nh tı́nh làm gı̀ đây?>
<Đi khỏi đây?> Tôi nói, không chắc chắn lắm.
<Nếu tu ̣i mı̀nh bay liên tu ̣c trong vài tuần, dám chắc mới đi đươ ̣c
khoảng mô ̣t tới mô ̣t thước rưỡi thôi á,> Marco nói chắc ni ̣ch.
Câ ̣u ấy nói đúng. Có lẽ. <Mă ̣t khác, con tàu này có thể va vào bức
tường và có lẽ cũng không ảnh hưởng gı̀ tới tu ̣i mı̀nh.>