Tobias thốt lên. <Thỏ.>
Con thú nhỏ vừa vo ̣t qua hàng rào đã chết. Tôi thấy rõ ràng là hơi thở
của nó đã ngưng.
<Hàng rào điê ̣n,> Cassie la rầm.
<Điê ̣n à?> Tôi cười. <
Tôi không tin lắm đâu.
Nếu cơ sở này mà do bo ̣n
Yeerk điều hành thı̀ chắc chắn nó phải đươ ̣c trang bi ̣ từ trường. Hàng rào
chı̉ là phần phu ̣ thêm, để đánh lừa thôi. Từ trường sẽ bao trùm hết cả
khoảng không gian hı̀nh vòng cung phı́a trên cơ sở. Sẽ phải tiêu thu ̣ mô ̣t
khối năng lươ ̣ng cư ̣c lớn đấy.>
<Đúng vâ ̣y,> Tobias đồng ý. <Hãy nhı̀n quanh mà coi. Chim sẻ nằm
chết la liê ̣t đằng kia kı̀a.
Mô ̣t con chuô ̣t cống. Quá chừng thú chết do cha ̣y
rông.>
<Dữ ha,> Rachel lẩm bẩm.
<Như vâ ̣y, lối duy nhất có thể vào đươ ̣c trong sân là đi qua tên lı́nh gác,
ngay cửa trước. Nhưng tôi không biết chúng ta sẽ làm bằng cách nào.>
<Nhı̀n kı̀a!> Cassie chı̉. Mô ̣t chiếc xe tải lớn, màu trắng, dài khoảng
chı́n mét, theo chuẩn mực loài người, cha ̣y ngang hàng cây nơi chúng tôi
đang
núp
và đỗ xi ̣ch la ̣i trước cổng.
Tôi không thể nhı̀n thấy bên trong của chiếc xe tải, mă ̣c dù vâ ̣y tôi chắc
chắn là bên trong nó phải chứa “hàng”.
<Để mı̀nh đi nghe ngóng,> Tobias nói và dang cánh ra, bay tới mô ̣t cái
cây
đứng chơ vơ
ngay phı́a ngoài hàng rào.
Gã tài xế xe tải ha ̣ cửa sổ xuống và chı̀a ra cho tên lı́nh gác mô ̣t tấm