<Tu ̣i mı̀nh phải vào trong thôi. Mı̀nh không muốn sau khi đã sống sót
sau vu ̣ nhào lô ̣n kinh hoàng vừa rồi la ̣i bỏ cuô ̣c ở đây.> Tobias vừa nói
vừa dẫn đường. Tu ̣i tôi bay là là xuống dưới cánh cửa và cố ép người lòn
qua cửa. Tu ̣i tôi không gă ̣p may.
<Keo dı́nh không thể xuyên qua đươ ̣c,> Ax nhâ ̣n đi ̣nh. <Chắc hẳn,
người ta đã trét keo xung quanh toàn bô ̣ cánh cửa.>
<Chẳng ai la ̣i đi trét cái thứ keo này xung quanh mô ̣t cánh cửa tầm
thường cả.> Tôi thở dài. <Tui dám cá là ống thông hơi sẽ không bi ̣ trét.>
Tôi dẫn tu ̣i ba ̣n bò cao lên trên tường và luồn vào ống thông hơi mà tôi
đã bi ̣ ke ̣t sáng nay.
<Đường nào đấy?> Tobias hỏi.
<Tui nhớ là bên phải.>
Tu ̣i tôi trườn qua những sơ ̣i xơ vải, tàn thuốc rải rác trong ống để tới
chỗ đươ ̣c coi là hang ổ của tên Visser. Có vẻ tên Visser đang chuẩn bi ̣ gây
chiến với mô ̣t đất nước nhỏ nào đó.
<Sơn ba chiều,> Ax giải thı́ch. <Người ta có thể sơn cửa sổ, ta ̣o nên
mô ̣t hı̀nh chiếu ba chiều phı́a sau lớp sơn này, ngu ̣y trang cho căn phòng.
Tên Visser đã ta ̣o nên hı̀nh ảnh của mô ̣t văn phòng thông thường phı́a sau
lớp sơn. Cực kỳ tinh ranh.>
<Như vâ ̣y, bất cứ ai đi ngang qua, như bảo vê ̣ chẳng ha ̣n, sẽ không biết
ở đây đang xảy ra chuyê ̣n gı̀,> Tobias đế thêm.
<Những cửa sổ bên ngoài cũng đươ ̣c sơn ba chiều luôn,> tôi phỏng
đoán. <Để đánh lừa mấy người lau cửa ngờ ngê ̣ch.>
<Hoă ̣c mô ̣t chú diều hâu đuôi đỏ. Nào hãy làm vu ̣ này thiê ̣t nhanh rồi
biến khỏi đây thôi.>
Trong bóng tối gần như không thấy đường, tu ̣i tôi lầm lũi bò qua tấm
lưới sưởi và men theo trần nhà cho tới khi gă ̣p mô ̣t bức tường. Rồi, tu ̣i tôi
bò xuống do ̣c theo bức tường, mô ̣t lúc sau tu ̣i tôi đứng trên tấm thảm công
nghiê ̣p màu xám.
<Để tôi hoàn hı̀nh trước,> Ax nói. <Đề phòng trường hơ ̣p cần sự phòng
ngư ̣.>
Trong mô ̣t vài phút, tu ̣i tôi trở về hı̀nh da ̣ng bı̀nh thường, mô ̣t người