đô ̣ng. Tôi tư ̣ hỏi liê ̣u đã bao giờ Tobias có cảm giác này chưa.
Tôi giang rô ̣ng đôi cánh rồi vút lên, băng vèo qua khoảng sân sau, thâ ̣n
tro ̣ng tránh xa cửa sổ phòng Tom. Luồng gió ngươ ̣c vừa bắt đươ ̣c đã đủ
làm căng đầy đôi cánh chim ưng của tôi.
Tôi bắt đầu đâ ̣p cánh lấy đô ̣ cao.
<Bồ đó hả, Jake?> Tobias ru ̣t rè go ̣i bằng gio ̣ng truyền ý nghı̃.
<Ừa. Mı̀nh tı́nh nhâ ̣p bo ̣n với bồ vài phút,> tôi lắc mı̀nh lướt ngang theo
dòng không khı́. Mắt chim ưng Peregrine của tôi có thể thấy tất cả mo ̣i thứ,
kể cả con chuô ̣t cha ̣y vô ̣i trên hàng rào nhà hàng xóm.
Ba tôi đang tưới cỏ.
<Bồ thấy sao?> Tôi hỏi Tobias.
<Không khı́ thế này mı̀nh bay ı̉u xı̀u hà, hổng nâng lên đươ ̣c bao nhiêu,>
câ ̣u ấy phàn nàn.
Tôi mı̉m cười mô ̣t mı̀nh. Câu trả lời đúng kiểu Tobias.
<Còn bồ thı̀ sao?>
<Căng thẳng,> tôi thừa nhâ ̣n. <Dưới này khá căng. Ba mı̀nh và Tom vẫn
đang hu ̣c hă ̣c nhau.
Còn mı̀nh thı̀ ở giữa
.>
Tobias chẳng nói gı̀. Tôi ngước nhı̀n câ ̣u ấy đang bay cao hơn mı̀nh cả
hai trăm mét.
<Tobias!>
Không có tiếng đáp.
<Tobias! Cái...>
<Chapman! Đúng là lão rồi. Trong ánh sáng này,
mı̀nh không chắc lắm
đâu.
Cách nhà bồ sáu dãy phố. Lão lái xe chở mô ̣t tên nào đó ở băng ghế
sau.>
Tôi ngóng theo hướng của Tobias. Mô ̣t chiếc xe hơi đen bự, bốn cửa.
Nhı̀n kỹ hơn - hı̀nh như người khách ở băng ghế sau có cầm cái gı̀ đó...
<Mı̀nh không thı́ch cảm giác này tı́ nào,> tôi nói.
<Ừ,> Tobias đồng ý.
<Ba mı̀nh ->
<Súng!> Tobias thét lớn. <Tên đó có súng!>