tôi có thể
bắt
gă ̣p.
Vài phút sau tu ̣i tôi la ̣i bay lên. Men theo dòng sông, vào sâu thế giới
dưới nước rùng rơ ̣n.
Hàng trăm tàu thuyền trải dài trên quãng sông không biết bao nhiêu dă ̣m
vuông này.
Những tàu ngầm Đức trong Thế chiến thứ II. Mô ̣t chiếc du thuyền cha ̣y
bằng hơi nước của những năm 1930. Mô ̣t mớ tàu máy
ta ̣p nha ̣p
. Mô ̣t
cái bè
gỗ kiểu
Polynesia
[2]
.
Những hàng kı́nh tiềm vo ̣ng giương ra. Những thân tàu bể nát. Vô số
cánh qua ̣t, chân vi ̣t, cần lái lăn long lóc. Những thiết bi ̣ đuôi tàu, radar.
Những đồ dùng xa hoa, lô ̣ng lẫy từ những tàu chở khách ha ̣ng sang. Và cả
những cơ thể người…
Những phi công và hành khách đươ ̣c bảo quản. Những thủy thủ thế kỷ
XVIII, những khách du li ̣ch châu Âu thế kỷ XX. Rồi
người săn
cá voi và
những ngư dân.
<Mô ̣t bô ̣ sưu tầm vô tiền khoáng hâ ̣u,> Cassie sẽ sàng. <Tất cả đều theo
thứ tự đàng hoàng.>
“Ừ, nghı̃a đi ̣a đồ chơi của Ông Ke ̣,” Marco nói mô ̣t cách nghiêm chı̉nh.
<Hoă ̣c của đa ̣o diễn phim dở hơi,> Rachel nói kháy. <Có ai nghı̃ sẽ đi
qua tàu Titanic không?>
<Những tàu thuyền này có nguồn gốc từ khắp mo ̣i nơi,> Marco nhâ ̣n xét.
<Đa ̣i Tây Dương, Thái Bı̀nh Dương, cách đây cả ngàn dă ̣m. Phòng triển
lãm này hẳn là bắt nguồn từ Đi ̣a Trung Hải. Thâ ̣t quá sức tưởng tươ ̣ng.>
Với con mắt cú tinh tường, tầm quan sát của tôi quét rô ̣ng cả hàng trăm
mét phı́a trước. Khi đến gần ánh đèn, tôi thấy nó xuất
phát
từ phı́a cuối
đường hầm he ̣p.
Dòng sông - đường hầm xuyên nghı̃a đi ̣a hàng hải - đô ̣t ngô ̣t he ̣p thı́t la ̣i.
<Giờ sao, anh Jake?> Rachel hỏi.
Tôi
chần chừ
lần nữa, nhưng chı̉ trong chốc lát.
Tiếp tu ̣c tiến tới là dẫn dắt cả hô ̣i -
các ba ̣n của tôi -
đi sâu vào nơi
chẳng biết là đâu. Và sau những gı̀ vừa mới thấy trên tàu sân bay Nhâ ̣t
thı̀
cái
‘nơi chẳng biết là đâu’ đó nhiều khả năng sẽ cực kỳ kỳ quái và chắc