phà không khı́ ra khỏi cái mũi người tô ̣i nghiê ̣p. Rồi từ từ, vẻ rất cảnh giác,
nó ha ̣ thấp đầu xuống và… dùng mồm dứt cỏ.
“Nó ăn cỏ,” tôi lầm bầm, cảm thấy buồn nôn quá.
Con bò – người điếng la ̣i. Dáo dác ngó quanh quất và nhı̀n thấy tôi, nó
bèn kho ̣c ra mô ̣t tiếng thách thức rồi ơ ̣ lên yếu ớt.
“Mı̀nh không thể nhı̀n thêm đươ ̣c nữa,” tôi khều khào khi con bò-người
– hay lão Chapman – dùng bàn tay và đầu gối bò về phı́a tôi. Nó toan húc
chết tôi bằng că ̣p sừng tưởng tươ ̣ng để tự vê ̣.
Tôi bước né sang bên khi cái đầu người thè lè lưỡi liểng xiểng sướt
qua. Nó thâ ̣m chı́ không nhâ ̣n ra là đã đâm hu ̣t tôi.
<Khiếp quá,> Tobias la lối.
Con bò-người ngừng sững rồi quay la ̣i. Lừ đừ, nó thẳng tiến vào tôi cú
nữa, vẫn bằng đầu gối.
Hỏng. Hỏng bét! Sinh vâ ̣t quái di ̣ này làm tôi nổi hết cả gai ốc. Mô ̣t ông
hiê ̣u phó đâu thể quỳ mo ̣p, lê la, gầm gừ, chảy dãi lòng ròng thế kia. Mất
mă ̣t quá! La ̣i còn khı̀n khi ̣t và thở phı̀ phò nữa chứ.
“Nó có trı́ não người, Tobias, nhưng chưa biết phải sử du ̣ng ra sao,” tôi
nói mà chẳng thể dời mắt khỏi con bò-người
theo kiểu mà mô ̣t vài người
cứ phải chăm chắm nhı̀n đường vı̀ ho ̣ đang lái mấy chiếc xe cà tàn.
Thâ ̣t
rơ ̣n óc gı̀ đâu. Tôi trố mắt nhı̀n nó lảo đảo, loa ̣ch xoa ̣ch đứng lên hai chân.
“Coi kı̀a, nó bắt chước. Nó thấy mı̀nh đứng trên hai chân và làm theo!”
Cảnh tươ ̣ng khiến tôi vừa rởn tóc gáy vừa phấn khı́ch.
<Úi cha me ̣ ơi! Dễ sơ ̣ thâ ̣t, tu ̣i mı̀nh cha ̣y thôi,> Tobias hét, qua ̣t cánh
bay lên ngo ̣n cây để kiểm tra coi có trực thăng không. <Ồ, có mô ̣t toán
người dàn quân ngoài bı̀a rừng. Chúng đang ùn ùn kéo tới đây.>
“Mı̀nh không thể để nó ở la ̣i đây,” tôi khổ sở nói và nhı̀n con bò-người
lâ ̣p châ ̣p đi bước đầu tiên.
<Hừ, tu ̣i mı̀nh đâu thể mang nó theo!> Tobias kêu rên.
Trời đất, sao mà tu ̣i tôi gă ̣p cảnh éo le thế này. Nhưng nếu tôi bắt sinh
vâ ̣t kia hoàn hı̀nh trở la ̣i da ̣ng bò tót của mı̀nh, có thể nó sẽ ngưng phát ra
năng lươ ̣ng biến hı̀nh.
<Đi nào, Cassie. Bo ̣n Yeerk nghı̃ chı̉ có mô ̣t con bò tót biến hı̀nh…>