<Ừa,> Marco cười khúc khı́ch. <Nhưng mà hổng làm người ta mắc
cười gı̀ hết trơn hết tro ̣i, Ax-ngố à.> Câ ̣u ta ngoi cái đầu cá heo láng mươ ̣t
lên khỏi mă ̣t nước và qua ̣t chân chèo oàm oa ̣p.
<Ba ̣n đánh giá quá cao tı́nh khôi hài của mı̀nh đó, Marco.> Ax lầm
bầm.
<Quá đúng mười mươi,> Jake cười khı̀.
<Cassie, dù sao thı̀,> Marco hét to, <bồ đã từ trên trời rơi xuống và
BÙM…>
“Mô ̣t con mòng biển bi ̣ hút vào đô ̣ng cơ trực thăng. Nhưng chẳng là gı̀
so với con kiến-Cassie mém dùng càng giết mı̀nh trong khu rừng.” Tôi
ngưng la ̣i. “Con bò tót đã cứu sống mı̀nh.”
<Hả, bồ có bà dı̀ cố giết bồ bằng kı̀m à
[4]
?> Rachel hỏi, hı́ch tôi mô ̣t cú
khá ma ̣nh. <Ôi trời, mı̀nh nghı̃ chı̉ có ho ̣ hàng của Tobias mới xử tê ̣ với
con cháu thôi chứ.>
“Không phải bà dı̀,” tôi chı̉nh la ̣i.
<Mı̀nh biết,> Rachel chép miê ̣ng. <Chà, bồ ho ̣c đâu đươ ̣c óc hài hước
duyên gớm.>
<Chắc ta ̣i vı̀ nhỏ vừa trở la ̣i tàu Mái Vòm cùng với Ax,> Marco làm
xàm.
Tôi nhô lên mă ̣t biển khoảng mô ̣t phút trong khi tu ̣i ba ̣n cho ̣c ghe ̣o nhau
ồn ào. Tôi nghı̃ về con bò tót và vẻ dũng cảm khi nó chiến đấu bên ca ̣nh
tôi. Nó đã làm thế vı̀ trong ma ̣ch máu nó có chứa ADN người chăng
và
bằng cách nào đó cùng liên kết với tu ̣i tôi
? Hay vı̀ bản năng bò tót có thể
làm bất cứ điều gı̀ để bảo vê ̣ bầy đàn của mı̀nh?
Hay là nó có cả hai thứ đó
ta?
Tôi không bao giờ biết chắc, nhưng tôi đã hiểu con bò tót hơn. Bản
năng sinh tồn của nó rất ma ̣nh mẽ, về phương diê ̣n này thı̀ chúng tôi giống
nhau. Bao nhiêu lần tôi và các ba ̣n cùng chiến đấu để bảo vê ̣ nhau, để cứu
loài người khỏi sự xâm lăng của bo ̣n Yeerk? Và bao nhiêu lần con bò tót
đã chiến đấu để bảo vê ̣ bầy khỏi những thú ăn thi ̣t khác, bao gồm cả loài
người?
<Nghe này mấy bồ, nếu cá mâ ̣p xuất hiê ̣n thı̀ tu ̣i mı̀nh sẽ biến thành món