xã hội phong kiến cũ. Đương nhiên, hành động của ông tỏ ra bạo ngược nhưng thậm chí chưa
bằng nửa sự bạo ngược mà các đại biểu Hội nghị quốc ước có thể thể hiện và trên thực tế đã
thể hiện ở những nơi mà họ xuất hiện; chưa bằng nửa sự bạo ngược mà bọn vương hầu quý
tộc bị ông đánh đổ đã quen thể hiện. Na-pô-lê-ông đã đưa chế độ khủng bố đã hoàn thành ở
Pháp sang các nước khác dưới hình thức chiến tranh, và "chế độ khủng bố" đó là hết sức cần
thiết ở Đức, Na-pô-lê-ông đã phá huỷ Đế quốc La Mã thần thánh và đã giảm bớt số lượng
nước nhỏ ở Đức bằng cách thành lập những nước lớn hơn. Ông đã mang đến các nước bị
chinh phục bộ luật của mình là bộ luật hơn hẳn tất cả các bộ luật hiện có và trên nguyên tắc
đã thừa nhận quyền bình đẳng. Ông buộc người Đức cho tới nay chỉ sống vì lợi ích cá nhân
phải cố gắng thực hiện tư tưởng vĩ đại phục vụ cho lợi ích chung cao cả hơn. Nhưng chính
điều đó đã thúc đẩy người Đức chống lại ông. Ông đã gây ra sự bất mãn của nông dân chính
với những biện pháp giải phóng họ khỏi ách áp bức phong kiến, vì ông đã xúc phạm đến
thiện kiến và những tập tục lâu đời của họ. Ông đã gây ra sự bất mãn của giai cấp
tư sản chính với những biện pháp đặt nền móng cho nền công nghiệp công xưởng Đức: việc
cấm dùng mọi hàng hoá của Anh và chiến tranh với Anh là nguyên nhân thúc đẩy người Đức
xây dựng nền công nghiệp của mình nhưng đồng thời lại dẫn đến sự tăng vọt giá cà-phê,
đường, thuốc lá hút và thuốc lá hít; và đương nhiên điều đó đủ để gây ra sự căm phẫn của các
ông chủ hiệu buôn Đức yêu nước. Hơn nữa, đây không phải là những người hiểu được những
kế hoạch vĩ đại của Na-pô-lê-ông. Họ nguyền rủa Na-pô-lê-ông đã ném con em của họ vào
các cuộc chiến tranh tiến hành bằng tiền tài của bọn quý tộc và tư sản Anh; họ ca tụng các
lớp người Anh đó như thể bạn bè của họ, nhưng chính chúng lại là thủ phạm thật sự của các
cuộc chiến tranh ấy, chúng làm giàu trong những cuộc chiến tranh ấy và không những trong
chiến tranh mà cả sau chiến tranh nữa; chúng đã lừa gạt người Đức, coi họ chỉ là những công
cụ nằm trong tay chúng. Họ nguyền rủa Na-pô-lê-ông vì họ muốn tiếp tục sống qua ngày
đoạn tháng, bảo vệ lối sống cũ đáng thương của mình, chỉ quan tâm đến lợi ích nhỏ nhặt của
mình, vì họ không muốn biết gì đến những tư tưởng vĩ đại và lợi ích chung. Và sau hết, khi
quân đội của Na-pô-lê-ông bị đánh tan ở Nga thì họ thừa cơ cởi bỏ chiếc xích sắt của người
chinh phục vĩ đại.
"Chiến tranh giải phóng vinh quang" những năm 1813 - 1814 và 1815 được gọi là "thời kỳ
vinh quang nhất trong lịch sử nước Đức" v.v., là một biểu hiện của sự điên rồ mà mãi về sau
mỗi người Đức ngay thẳng và có lý trí đều cảm thấy ngượng ngùng
151
. Quả thật bây giờ đã
biểu hiện nhiệt tình sôi nổi, nhưng ai biểu hiện nhiệt tình ấy? một là nông dân - bộ phận dốt
nát nhất trong dân cư, - họ khư khư ôm lấy những thành kiến phong kiến và nổi dậy hàng
loạt, thà chết chứ không chịu phản bội lại những kẻ mà bản thân họ, ông cha họ gọi là ông
lớn của họ; không chịu phản bội lại những kẻ đã cai quản họ, chà đạp và đánh đập họ. Hai là
sinh viên và thanh niên nói chung, họ cho rằng chiến tranh này là chiến tranh cho các nguyên
tắc, ngoài ra còn là chiến tranh tôn giáo vì tin rằng sứ mệnh của họ là chiến đấu không ngừng
cho nguyên tắc của chủ nghĩa chính thống mà họ gọi là tính dân tộc, mà còn cho tam vị nhất