Anh phó nhòm biến mất hoàn toàn. Phòng anh bị phá hoại. Cửa nẻo
gãy đổ, quần áo rách nát, nệm bị rạch, hình và bản âm bị hủy hết, mấy
máy ảnh bị đập nát. Chủ nhà anh không cảm thông cho các anh hùng,
đi lòng vòng tìm anh đòi đền tiền sửa cửa.
Chúng tôi lo anh phó nhòm đã bị giết. Tủ kiếng chỉ còn lại các mảnh
vỡ. Nó có vẻ quái đản. Nó trở thành biểu tượng nhỏ nhoi cho cái trò
mà các lực lượng quyền lực trong xã hội đối với bất cứ kẻ nào dám
nói ra hoặc chống lại sự thối nát của chúng. Và vì anh phó nhòm
không có mặt để ghi lại chuyện xảy ra đêm đó, nên chẳng có sự kiện
nào xuất hiện trên báo. Như thể các sự kiện chẳng bao giờ có thật, nó
khoác lấy thân phận tin đồn.
Mới đầu đường phố chịu đựng nỗi sợ. Các chủ quầy hàng nghỉ bán
vào buổi chiều. Đường phố dường như u ám hơn bình thường vào
chập tối. Người ta trở nên cảnh giác đến nỗi chẳng ai mở cửa và cửa
luôn khóa kín. Những người hay uống rượu bên ngoài về trễ thì bây
giờ tìm cơn say trong phòng và ca hát vào đêm.
Sau một thời gian, chẳng có trò trả đũa nào giáng lên chúng tôi. Có vẻ
như chẳng có gì đáng chú ý xảy ra. Vài người chúng tôi bắt đầu ngờ
vực ký ức mình. Chúng tôi bắt đầu nghĩ mình đã tưởng tượng tập thể
cơn sốt đêm đó. Nó không phải lần đầu cũng không phải lần cuối.
Trong khi đó, dòng thác những con báo đốm hoang vẫn chảy dưới các
con đường đói khát của chúng tôi.
Trong nhiều đêm như vậy, trong giờ phút tuổi thơ tôi, mẹ kể tôi nghe
các câu chuyện về cuộc khởi nguyên có màu ngọc xanh lục trong căn
phòng nhỏ. Dưới con mắt trắng của trăng, dưới bầu trời màu chàm,
trong ánh sáng bằng vàng của sự sống vẫn sót lại trong căn phòng
nhỏ, tôi lắng nghe sự thông thái trong các bài ca xưa mà ba diễn tấu
với giọng tranh đấu giòn giã. Bị thôi miên bởi những cái bóng xanh
thẫm, không gian xanh biếc ngược đời và cái liếc nhìn ánh bạc của