Tự Đức năm thứ 2 (1849) kinh thành có bệnh dịch, vua xuống tờ chiếu tìm
cách trừ tai dịch lệ, đình thần võ ban Tạ Quang Cự trở xuống, văn ban Hà
Duy Phiên trở xuống 32 người hội làm sớ rằng: "Dịch lệ là quỷ đi làm việc,
quỷ có chỗ thì không làm ma quái nữa. Cho nên Bá Hữu hiện ra ma quỷ,
Tử Sản cho lập nhà thờ thì ma quỷ ấy thôi ngay". Bèn xin rửa tội trước cho
lũ Duyệt. Vua nghe cho làm.
Trước mả Duyệt ở Gia Định, tự năm Minh Mạng 16 (1835) thành Phiên An
đã phá rồi, hoặc khi trời tối đêm tĩnh có tiếng ma khóc, hoặc có tiếng rộn
rịp như người ngựa đi, dân ở đấy không dám đến gần, người đi đường cũng
đi quanh xa chỗ ấy, để tránh, đến bây giờ bèn sai quan địa phương cất cái
bia đá chỗ mả Duyệt đi, cho con cháu tự sửa đắp mả ấy, cái tiếng kêu khóc
tảo tạp ban đêm bèn mất hẳn. Khi án Duyệt phát ra, tự điền của cha là Toại
ở khoảnh 32 mẫu sung làm công điền. Năm ấy quan tỉnh Định Tường là Đỗ
Quang tâu xin cấp trả cho cháu gọi Duyệt bằng ông chú bác là Lê Văn Niên
nhận cày, chiếu lệ nộp thuế, để nối dõi hương hỏa. Mả cha mẹ Duyệt ở thôn
Long Thịnh cũng đều cho tu sử
Chư tướng lúc trung hưng, duy Duyệt cùng Nguyễn Văn Trương đánh giặc
quân không thua trận nào. Nhưng Trương quân đi đến đâu, giặc thường
trốn, nhiều lần được toàn thắng, sĩ tốt cũng ít thương vong. Duyệt đi đến
đâu thường gặp giặc, hoặc đến ác chiến suốt ngày tướng sĩ chết nhiều. Thế
Tổ thường dụ rằng: Dũng tướng không bằng trí tướng, trí tướng không
bằng phúc tướng, đấy là chỉ vào Duyệt với Trương đấy. Duyệt làm việc
nhiều, chuyên quyền làm bậy, dụng hình quá lạm, nhưng lòng trung liều
mình việc nước hăng hái không tiếc thân được lòng tướng sĩ. Lại nói thần
giúp, có một đêm hành quân đường núi có hơn mươi con sơn thú to bằng
voi phục ở giữa đường, bọn quân đi trước không dám gần, Duyệt hỏi biết
xứ ấy có đền Ngọc Nương thiêng lắm, lập tức mật đảo được một chốc đi
đến xem thì những con thú to phục ở đường đều đi đâu cả rồi, quân bèn tiếp
di.