vài dặm đường, thì hai đạo quân của Nguyễn Huệ và Quang Diệu chẻ thành
hai cánh tả- hữu bao quanh phủ thành tiến về nơi qui tụ.
Nguyễn Huệ hành quân theo đường triền núi đuổi quân Nguyễn chạy
dài xuống biển Đông. Quang Diệu chỉ huy đạo quân của mình bám theo
ven bờ hạ lưu, lùng sục không chừa một tấc đất nào bỏ hoang. Vô phương
chống trả, quân Nguyễn xéo lên nhau chạy dài xuống biển. Hai cánh quân
Huệ- Diệu giáp công theo hình cánh cung trên bờ biển. Tàn quân Nguyễn
bị lùa vào giữa, chạy qua không được, quay lại cũng chẳng thông, tháo lui
vào giữa gặp voi giày hết đường tẩu thoát, quăng gươm giáo quy hàng. Một
số liều lĩnh, vượt biển ra khơi đùa với sóng gió, khó bề sống sót. Bởi phi
tiêu từ trong đất liền bay ra như mưa, thuyền Nguyễn ở ngoài khơi không
dám cập vào bờ.
Thu gọn tàn quân Nguyễn, giao lại cho thủy quân canh giữ vùng biển
xử trí. Tượng binh di chuyển lên phía triền núi án ngữ từ đèo Cù Mông.
Một đêm không ngủ, cả phủ thành Quy Nhơn hồi hộp lắng nghe tiếng
lênh khởi nghĩa, điều quân khiển tướng, voi ngựa rập rình, pháo đại hỏa lô
nổ vang rền…Rạng ngày, lá cờ đỏ hình chữ nhật tung bay phất phới khắp
phố thị đường quê và các cửa công đều đã có chính phủ lâm thời thay thế.
Huệ- Diệu cầm hai đạo binh hùng tiếp tục lên đường chi viện ra hướng
bắc, đồng loạt tấn công kết hợp với phong trào nông dân nổi dậy, đánh sập
hoàn toàn bộ máy chính quyền cũ. Hết huyện Tri Viễn đến Phù Ly, Bồng
Sơn đuổi Nguyễn chạy dài, đặt vọng gác trên đỉnh đèo Bình Đê, cát tuyến
hai phủ Quy Nhơn với Hòa Nghĩa.
***
Đứng trên đèo Bình Đê, Nguyễn Huệ thả ống nhòm bằng mắt của
mình, quan sát một khoảng trời rộng mênh mông và đã thấy. Tàn quân
Nguyễn từ phía nam dồn ra, kết hợp với lực lượng địa phương và tăng viện