1157
ta lại cho như vậy mới hợp với "tư duy hiện ñại"). Các cụ ngày xưa thường viết
gọn hơn, nhưng lại hay khuôn theo ñạo ñức, lễ giáo phong kiến, làm mất khá
nhiều bản sắc dân gian. Những tác giả cuối thế kỷ XIX sang ñầu thế kỷ XX, với
văn quốc ngữ buổi ñầu, giữ ñược ít nhiều phần chân chất, song thường là kể
chuyện không trôi chảy. Các học giả tân học có vốn kiến thức Nho học buổi giao
thời (nhất là ở miền Bắc) giữ ñược phong cách cổ kính hơn cả, lại thường thu
gọn lại như lối biên soạn những mẩu "cổ học tinh hoa". Các nhà tân học kể
chuyện bằng tiếng Pháp, dẫu có ñược lối diễn ñạt sáng sủa của Pháp văn
(không nhiều người lắm), nhưng lúc ấy cái hồn Việt văn lại giảm bớt. Tôi thấy
Nguyễn Đổng Chi - dù chưa toàn bích - ñã cố gắng ñể tránh ñược những hạn
chế của người ñi trước, kể cả những người ñồng thời với anh. Cách kể của anh
hồn nhiên, có ít nhiều vẻ dân dã và phong cách cổ. Ở những trang mở ñầu và kết
luận bộ Kho tàng, anh ñã lưu ý ñến những ñặc trưng của cổ tích: Tính chất cổ
của sự việc, của hình tượng, bản sắc dân tộc của câu chuyện kể, và trình ñộ tư
tưởng và nghệ thuật cao trong loại hình tự sự dân gian. Khi kể chuyện, anh ñã
tỏ ra tôn trọng những ñặc ñiểm mà anh ñã nêu ra. Đồng thời, anh vẫn có tư
cách một nhà văn. Cách kể của anh mộc mạc, có vẻ biến hóa, và ñiều ñáng quý
hơn cả: rất ñáng tin. Nói một cách nôm na, ñọc truyện cổ tích của anh, tôi
không phải cảnh giác như khi ñọc những truyện người khác kể, có nhiều chi tiết
cứ phải băn khoăn là thật hay không thật. Trong nhà phôn-clo học Nguyễn
Đổng Chi, có cả nhà văn và nhà sử học. Hai nhân vật sau này không lấn át nhân
vật trước, mà lại làm nên sức thuyết phục cho công trình của Anh. Tiếp cận bộ
Kho tàng của Nguyễn Đổng Chi, không thể quên ñiều ñó.
25-III-1993
PGs. VŨ NGỌC KHÁNH
(Kiến thức ngày nay, SỐ 110,
1-VI-1993, TR.3-6)