1156
khác phải ra ñời ở từng chặng thời gian nào ñó. Lần theo mười mục của Nguyễn
Đổng Chi có thể cảm nhận dấu vết thời ñại (cố nhiên không thể rành mạch như
việc phân kỳ lịch sử) cho việc xuất hiện các cốt truyện tương ứng. Đây chính là
sự trình bày trong thực tiễn những kiến giải tổng quát ở phần nghiên cứu (Phần
I chương III: Truyện cổ Việt-nam qua các thời ñại) mà M. Đuy-răng (M.
Durand) và Lê Văn Hảo ñều ñã thừa nhận
1
. Một vài nhà nghiên cứu có cách
ñịnh vị cho trường hợp truyện này hay truyện khác, nhưng hình như ñã không
quan tâm ñến tổng thể cũng như ñến lịch trình. Tôi vẫn nghĩ rằng cách nhìn của
Nguyễn Đổng Chi, ñến nay là thỏa ñáng và ñi trước nhiều người.
Còn một ñiều nữa. Phải chăng cách gộp những câu chuyện theo những mục
trên ñây - lấy ngay vấn ñề xã hội làm hệ quy chiếu, chứ không theo kiểu căn cứ
vào tính chất của câu chuyện thường ñược nhận ñịnh khác nhau - có phần hợp
với cách hiểu của người Việt-nam, có thể gây cảm tưởng về một "phôn-clo Việt-
nam như tự nó" hơn. Tôi ñã nói ñiều này với Anh. Anh không trả lời về sự ñồng
tình của tôi, mà chỉ tán thành ở một khía cạnh nhận thức. Sự tán thành của anh
ñã ñộng viên tôi về luận ñiểm: "folklore Việt-nam ra ñời". Tôi ñã ghi lòng biết
ơn anh về ñiểm ñó
2
.
*
* *
Còn một vấn ñề nữa cũng nên nghĩ ñến khi miệt mài nghe Nguyễn Đổng Chi
kể chuyện trong tập Kho tàng. Tôi không rõ trong sự say mê của người ñọc bộ
sách có bao nhiêu phần vì nội dung của truyện và bao nhiêu phần vì cách kể của
soạn giả. Bởi vì, quả thực, cho ñến hôm nay, tìm ñược một tác giả xuất sắc kể
truyện cổ tích Việt-nam, cũng còn phải ñắn ño suy nghĩ. Và ngay yêu cầu khoa
học, yêu cầu thẩm mỹ của phương pháp kể cũng có ý kiến khác nhau. Có người
bảo phải kể cho ñúng phong cách dân gian. Có người còn nghĩ rằng phải biết
ñối tượng nghe là người thời nay, thì cách kể cũng phải cho hợp thời một chút.
Viết cổ tích là làm một công trình nghệ thuật, chứ không ñơn giản là một việc
sưu tầm như ñi ghi âm lời của các ông già bà cả. Rất mong là sẽ có dịp nhất trí
về vấn ñề này. Song tôi vẫn cứ băn khoăn khi ñọc nhiều soạn giả. Rất nhiều
người muốn nhân việc kể chuyện ñể làm văn, cứ như họ viết truyện ngắn. Nhiều
người khác, nhất là các nhà văn, còn ñảo lộn lên, thêm thắt chi tiết, miêu tả
phong cảnh, phân tích tâm lý hoặc hiện ñại hóa câu chuyện (ñáng buồn là người
1
Xem: BEFEO, số 1 - 1964.
2
Xem: Dân luận nghiên cứu folklore Việt-nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1991;
tr.27.