751
Khi vẽ xong, họ thắp hương, ñiểm nhãn, rồng vụt bay lên trời mang theo cả hai
vợ chồng trước con mắt ngơ ngác của quan và lính.
Đến Nha-trang, họ xuống ở nhờ một bà già lên là Xổi. Một hôm Thầy Thím
gửi cho bà một bọc vải ñựng hạt ñậu, treo lên xà nhà, và dặn bà ñừng cho ai biết.
Không ngờ sau ñó ñứa cháu bà Xổi nghe trong bọc có tiếng xì xào thì tò mò mở
ra xem. Tự nhiên trong bọc có nhiều binh lính hiện ra cầm khí giới bao vây lấy
nó, làm nó hoảng hốt kêu cứu om sòm (giống với tình tiết rấm lúa thành binh ở
truyện số 39, tập I). May Thầy Thím kịp thời chạy ñến hô thần chú cho binh lính
rút vào bọc nên không việc gì.
Về sau Thầy Thím chết, quan trên không trị ñược họ lúc sống, nên báo thù lúc
chết bằng cách dùng xiềng sắt xiềng mồ lại. Nhưng ñêm ñến có voi rừng về phá
tan xiềng. Về sau vua phải phong cho chồng là Chí Đức Đại vương, vợ là Chí
Đức nương nương
1
.
1
Theo Sơn Nam. Chuyện xưa tích cũ, tập I, và theo Xa-lê (Sallet) trong tạp chí Viễn Á số 5
(1925). Lê Thanh Thái kể ñoạn cưỡi rồng có hơi khác, như sau:
Thầy Thím từ miền ngoài vào ở làng Tam-tân (Phan-thiết) làm nghề thợ rừng kiêm thầy
thuốc. Do chữa ñược nhiều bệnh hiểm nghèo nên tiếng ñồn khắp nơi, ñến tai một lão Tây coi
ñèn ở ñây. Linh cảm là không yên, Thầy sai Thím mua một tấm vải ñiều về vẽ một con rồng
nhưng chưa ñiểm nhãn ñã cuốn lại cất ñi.
Ít lâu sau, lão Tây ñèn và lính tới bắt. Thầy xin phép vẽ nốt mắt rồng ñể treo bàn thờ tổ ñã.
Đoạn Thầy trải vải ra sân ñiểm mắt bên tả xong, bảo vợ bước vào mài thêm mực. Điểm vừa
xong mắt bên hữu, thì rồng tự dưng quẫy ñuôi bay lên trời, mang theo cả hai vợ chồng, làm
cho lão Tây ñèn và lính ñứng ngây (Bách khoa, số 385).