LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 105

nhân đám tang của những nạn nhân của vụ thảm sát, trong khi tổng số dân
của Boston lúc bấy giờ là khoảng 16 nghìn người. Điều này đã khiến cho
nước Anh phải rút hết quân lính khỏi Boston và cố gắng làm dịu tình hình.

Việc bắt lính là nguồn gốc của vụ thảm sát. Suốt những năm 1760, đã có
những cuộc nổi loạn chống bắt lính New York và tại Newport, Rhode
Island, khoảng 500 thủy thủ, thanh niên và người da đen đã nổi loạn sau
năm tuần bị quân Anh bắt đi lính. Sáu tuần trước vụ Thảm sát Boston, đã
xảy ra một trận chiến giữa thủy thủ chống lại lính Anh – những người đã
giành mất công việc của họ, một thủy thủ đã bị giết hại.

Trong Tiệc trà Boston vào tháng 12 năm 1773, Ủy ban Thư tín của Boston,
được thành lập một năm trước để tổ chức các hoạt động chống lại người
Anh, “đã kiểm soát ngay từ ban đầu các hành động của đám đông chống lại
ngành trồng chè”, Dirk Hoerder cho hay. Tiệc trà đã dẫn đến việc Nghị viện
phải thông qua các Đạo luật Cưỡng chế (Coercive Acts), hầu như áp đặt
lệnh giới nghiêm tại Massachusetts, giải tán chính phủ thuộc địa, đóng cửa
cảng Boston và triển khai bổ sung quân lính. Tuy nhiên, đã rộ lên các cuộc
họp của thành phố và quần chúng nhằm phản đối. Việc quân Anh tịch thu
một cửa hàng bột khiến bốn nghìn người từ khắp nẻo đường của Boston tụ
tập tại Cambridge, nơi một số quan chức giàu có sở hữu những ngôi nhà
lộng lẫy. Đám đông đã buộc các quan chức từ chức. Ủy ban Thư tín của
Boston và các thành phố khác đã hoan nghênh cuộc tụ tập này, nhưng đồng
thời cảnh báo sẽ phản đối việc đập phá các tài sản cá nhân.

Trong cuốn From Resistance to Revolution (Từ khởi nghĩa đến cách mạng),
Pauline Maier, một nhà nghiên cứu về phong trào chống đối người Anh
trong một thập kỷ trước năm 1776, đã nêu bật sự dung hòa của tầng lớp
lãnh đạo và “sự nhấn mạnh của chính họ đối với trật tự và kiềm chế”. Bà
viết: “Các quan chức và thành viên của hội Những người con của Tự do chủ
yếu xuất thân từ các tầng lớp trung và thượng lưu trong xã hội thuộc địa.”