như Mclancton Smith và những người khác, lúc đầu còn chống lại việc
thông qua Hiến pháp, sau đó chuyển sang ủng hộ; và với việc được New
York phê chuẩn, việc thông qua Hiến pháp đã được bảo đảm. Những chủ sở
hữu tự do đó nhận ra rằng họ không còn là tá điền, nhưng lại trở thành
những người đi cầm cố khi phải trả các khoản vay ngân hàng, thay vì nộp tô
cho giới chủ đất.
Dường như cuộc nổi dậy chống chế độ cai trị Anh đã dẫn tới việc một nhóm
quý tộc thuộc địa thay thế những người trung thành với Anh quốc; tạo một
vài lợi ích cho những chủ đất nhỏ và đẩy người lao động nghèo da trắng
cùng nông dân tá điền trở về tình trạng trước đây của họ.
Cách mạng có ý nghĩa gì đối với người Mỹ bản địa, người Anh-điêng? Họ
bị quên lãng bởi những lời lẽ hoa mỹ trong Tuyên ngôn Độc lập. Họ không
được đối xử công bằng, không được lựa chọn là những người sẽ lãnh đạo
các vùng lãnh thổ Mỹ mà họ đã và đang sinh sống, không được tìm kiếm
hạnh phúc mà họ theo đuổi trong nhiều thế kỷ, trước khi người châu âu tới.
Và bây giờ, khi người Anh đã ra đi, người Mỹ có thể bắt đầu quá trình đẩy
người Anh-điêng ra khỏi đất đai của họ, giết hại họ nếu phản kháng. Tóm
lại, như Francis Jennings đã nói, người Mỹ da trắng vừa chống lại sự kiểm
soát của đế quốc Anh ở phía Đông, lại vừa tìm kiếm củng cố chủ nghĩa đế
quốc của riêng mình ở phía Tây.
Trước Cách mạng, người Anh-điêng đã bị đánh bại trước bạo lực, ở
Virginia và New England. Dù sao, họ cũng đã tìm được cách để cùng chung
sống với thực dân. Nhưng đến khoảng năm 1750, khi dân số thực dân tăng
nhanh, đẩy người Anh-điêng di chuyển về phía Tây, tới vùng đất mới, tạo
điều kiện nảy sinh những xung đột. Những tên buôn đất từ phía Đông bắt
đầu xuất hiện ở thung lũng sông Ohio, vùng lãnh thổ của liên minh các bộ
lạc tham gia thỏa ước hữu nghị, gọi là Covenant Chain (Hiệp ước Vòng) ,
trong đó người Iroquois giữ vai trò phát ngôn. Tại New York, bằng những