triệu phụ nữ vốn phải sống quỳ gối có thể đứng dậy bằng đôi chân của họ,
hay nói cách khác là biến họ từ đứa bé thành người phụ nữ.
Có lẽ Margaret Fuller là trí thức năng nổ nhất trong số những người bảo vệ
quyền phụ nữ. Quan điểm của bà, trong cuốn Woman in the Nineteenth
Century (Phụ nữ thế kỷ XIX), là sự thấu hiểu rằng “trong đầu óc của đàn
ông luôn có một thứ cảm giác đối xử với phụ nữ như với nô lệ...”. Bà viết
tiếp: “Chúng ta muốn những tư tưởng hủ lậu đó phải được đạp đổ. Chúng ta
mong muốn mọi cánh cửa đều được mở rộng cho cả phụ nữ cũng như cho
nam giới.” Và: “Những gì phụ nữ cần không phải là một người phụ nữ phải
hành động hoặc bị cai trị, mà là một sức sống tự nhiên để phát triển, một trí
tuệ để nhận thức, một tâm hồn để sống tự do và không bị áp đặt…”
Còn có rất nhiều điều cần phải vượt qua. Một trong những nhà văn nổi tiếng
nhất giữa thế kỷ XIX là Đức cha John Todd (một trong những cuốn sách
bán chạy của ông đã đưa ra lời khuyên cho những nam giới trẻ tuổi về hậu
quả của sự thủ dâm – rằng nó “làm cho trí tuệ bị hư hỏng một cách khủng
khiếp”) đã đưa ra nhận xét như sau về một trang phục mới của phái nữ:
Một số chị em đã cố gắng để biến thành người nửa nam, nửa nữ thông qua
việc khoác lên người chiếc quần túm ống. Tôi xin được nói với các bạn một
điều là tại sao điều này không bao giờ thích hợp. Đó là một người phụ nữ
khi khoác trên người chiếc váy dài trông sẽ rất đẹp. Cô ta đi lại một cách
duyên dáng… Nếu như cô ta cố sức để chạy, vẻ duyên dáng sẽ biến mất…
Cứ tưởng tượng xem, thay vì chiếc váy dài, phụ nữ mặc quần, để lộ bắp
chân, thế là bao nhiêu vẻ duyên dáng và những điều bí ẩn tan biến hết.
Vào những năm 1830, thư thông báo chính thức từ Tổng hội Mục sư
(General Association of Ministers) ở Massachusetts yêu cầu các mục sư
không được để phụ nữ phát biểu trên bục giảng kinh: “… nếu để phụ nữ
chiếm được vị trí và tiếng nói của đàn ông… chúng ta tự đặt mình vào thế
phải tự vệ chống lại họ”.