LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 647

chính trị kéo dài trong suốt những năm 1930, vốn chỉ giảm nhẹ phần nào do
Chính sách Kinh tế xã hội mới, giờ đây đã hoàn toàn bị những mối quan
ngại lớn hơn từ chiến tranh thay thế. Chiến tranh giúp người nông dân kiếm
được nhiều tiền hơn, mức thu nhập nâng cao hơn góp phần đảm bảo đời
sống cho đại bộ phận người dân, các cuộc bạo loạn từng làm xáo trộn trong
những năm 1930 nhờ đó cũng bị đẩy lùi. Theo Lawrence Wittner, “Chiến
tranh đã thổi luồng sinh khí mới cho chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ”. Lợi nhuận
của các tập đoàn kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ sau chiến tranh, từ 6,4 tỷ đô-
la năm 1940 lên đến 10,8 tỷ đô-la vào năm 1944, đủ để khiến tầng lớp công
nhân và nông dân nghĩ rằng chính phủ đang thật sự mang lại cho họ những
điều tốt đẹp.

Một bài học cũ nhưng không bao giờ thừa mà nước Mỹ học được đó là:
“Chiến tranh có thể giải quyết được mọi vấn đề về quản lý và thống trị”.
Charles E. Wilson, chủ tịch tập đoàn General Electric Corporation, trước
những lợi ích to lớn do chiến tranh mang lại đã không ngần ngại chủ động
đề xuất tạo dựng một “thể chế kinh tế chiến tranh vĩnh cửu” bằng cách tiếp
tục duy trì mối liên minh giữa kinh tế và quân sự.

Sau chiến tranh, nhằm ngăn chặn làn sóng đòi xuất ngũ và giải trừ quân bị
của người dân Mỹ đã quá mệt mỏi với những gì mà cuộc chiến mang lại,
chính quyền của Truman (Roosevelt đã qua đời trước đó, vào tháng 4 năm
1945) đã tìm cách khuấy lên bầu không khí hoang mang lo sợ khủng hoảng
và Chiến tranh Lạnh. Trên thực tế, trận chiến đối đầu với Liên Xô là hoàn
toàn có thực. Một nền kinh tế bị tàn phá nghiêm trọng, số người chết trong
chiến tranh ước tính khoảng 20 triệu người, đó là những gì mà Liên Xô phải
gánh chịu sau cuộc chiến. Bằng việc tái cơ cấu lại nền công nghiệp cũng
như không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự, hơn lúc nào hết, Liên Xô
đang trở thành một mối đe dọa hàng đầu đối với nước Mỹ và với chính
quyền của Truman.