Với mục tiêu tăng cường ngân sách cho quân đội và kích cầu kinh tế bằng
các đơn đặt hàng quân sự, nước Mỹ đã tạo ra tâm lý sợ hãi – một sự ghê sợ
đối với chủ nghĩa cộng sản. Bên cạnh đó, chính phủ Mỹ còn kết hợp một số
chính sách và biện pháp cho phép tiến hành các hoạt động chặt chẽ và mạnh
bạo hơn trong giải quyết các vấn đề đối nội cũng như quốc tế. Các cuộc đấu
tranh cách mạng ở châu á và châu âu được giới cầm quyền Hoa Kỳ mô tả là
hiện thân của chủ nghĩa bành trướng do Liên Xô lãnh đạo – nhằm nhen lại
ngọn lửa căm thù của người dân Mỹ đối với sự xâm lăng của Hitler trong
quá khứ.
Trước chiến tranh, hy Lạp vốn là một quốc gia nằm dưới sự thống trị chế độ
quân chủ cánh hữu và chủ nghĩa độc tài. Tuy nhiên, khi chiến tranh kết
thúc, nhờ sự can thiệp của quân đội Anh, tổ chức theo đường lối tả khuynh
mang tên Mặt trận Dân tộc Giải phóng (National Liberation Front – EAM)
chính thức được thành lập. Ngay sau khi chế độ độc tài được khôi phục,
một loạt những người tham gia chống lại chính quyền bị tống giam, lãnh
đạo các công đoàn cũng bị loại bỏ. Gần như ngay lập tức, phe cánh tả đã
đứng ra phát động một phong trào chiến tranh du kích chống lại chế độ độc
tài với sự tham gia của 17 nghìn binh lính, hơn 50 nghìn người ủng hộ và
gần 270 nghìn cảm tình viên, quả là một con số đáng kinh ngạc đối với một
quốc gia 7 triệu dân. Nhận thấy không thể ngăn chặn được cơn bạo loạn
bùng phát, Anh quốc buộc phải nhờ đến sự can thiệp của nước Mỹ. Một
phát ngôn viên thuộc Bộ Ngoại giao tuyên bố: “Đây chính là thời khắc Anh
quốc trao lại quyền lãnh đạo thế giới cho Hoa Kỳ”.
Nước Mỹ dường như đang hưởng ứng theo Học thuyết Truman, cái tên
được dùng đặt cho tư tưởng chủ đạo trong bài phát biểu của Truman vào
mùa xuân năm 1947 trước Quốc hội, trong đó kêu gọi gói viện trợ quân sự
và kinh tế trị giá 400 triệu đô-la cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Truman tuyên
bố rằng nước Mỹ phải trợ giúp “miễn phí cho mọi dân tộc − những người
đang phải chống chọi lại sự chinh phạt của các tổ chức có vũ trang trong