như thất học, nghèo đói vẫn không được giải quyết triệt để. Trong tác phẩm
Intervention and Revolution (Can thiệp và Cách mạng), Richard Barnet cho
rằng Hy Lạp đang phải oằn mình chịu đựng cái gọi là “chế độ độc tài quân
sự tàn bạo và lạc hậu”.
Tại Trung Quốc, một cuộc cách mạng đã được nhen nhóm ngay sau khi
Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
phong trào đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ đông đảo quần chúng nhân
dân. Sau cuộc chiến với Phát-xít Nhật, Hồng quân Trung Quốc tiếp tục triển
khai trận chiến chống lại chế độ độc tài thối nát của Tưởng Giới Thạch – do
Mỹ bảo trợ. Tính đến năm 1949, chính phủ Hoa Kỳ đã viện trợ cho quân
đội của Tưởng Giới Thạch gần 2 tỷ đô-la, tuy nhiên, trong Sách Trắng đệ
trình chính phủ, Bộ Ngoại giao nhận định rằng chính quyền Quốc Dân đảng
đã hoàn toàn đánh mất sự tín nhiệm của binh lính cũng như của người dân.
Tháng 1 năm 1949, các cánh quân của phe Cộng sản tiến về Bắc Kinh,
chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài, đặt Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của
phong trào cách mạng. Đây cũng là lần đầu tiên trong suốt chiều dài lịch sử,
dân tộc Trung Hoa gần như có được một chính quyền của nhân dân và hoàn
toàn độc lập với sự kiểm soát của các thế lực ngoại bang.
Suốt một thập kỷ sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã không ngừng nỗ lực xây dựng
một quốc gia thống nhất và loại bỏ những kẻ cực đoan – những người bảo
thủ hay tự do, thuộc Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ – không chịu chấp
nhận ủng hộ các chính sách đối ngoại liên quan đến Chiến tranh Lạnh và
chống Cộng. Để làm được như vậy, nhất thiết phải có một vị Tổng thống
thuộc Đảng Dân chủ tự do, người có thể nhận được sự ủng hộ của phe bảo
thủ trong các chính sách đối ngoại mạnh bạo cũng như có thể xây dựng
được các chương trình phúc lợi xã hội trong nước mà không vấp phải sự
phản đối của những người theo phái tự do (như Chính sách kinh tế công
bằng của Truman – Truman’s Fair Deal). Ngoài ra, nếu các thành viên của
Đảng Tự do và Đảng Dân chủ truyền thống miền Nam ủng hộ chính sách