đối ngoại chống “xâm lược”, thì khối liên minh tự do – cấp tiến vốn được
xây dựng trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ hoàn toàn bị sụp đổ. Và
nếu như tinh thần chống Cộng đủ mạnh thì các chính sách đàn áp trong
nước từng bị coi là đe dọa nghiêm trọng đến truyền thống tự do dân chủ sẽ
được những kẻ theo chân chủ nghĩa tự do chấp nhận. Năm 1950, một sự
kiện đã góp phần đẩy nhanh quá trình hình thành phong trào tự do – với sự
đồng thuận của phe bảo thủ − đó là việc Truman tuyên bố chiến tranh tại
bán đảo Triều Tiên.
Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, với sự đầu hàng của Nhật Bản đã
chính thức mở ra một thời kỳ mới cho bán đảo Triều Tiên sau 35 năm bị
Phát-xít Nhật đô hộ. Việc tranh giành ảnh hưởng giữa Mỹ và Liên Xô đã
khiến bán đảo này bị chia tách thành hai quốc gia riêng biệt là: Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Hàn) với mô hình xã hội chủ nghĩa dưới
sự bảo trợ của Liên Xô và Đại Hàn Dân quốc (Nam Hàn) với mô hình
chuyên chính cánh hữu do Hoa Kỳ tiếp quản. Sau không ít lần đe dọa qua
lại giữa hai miền Triều Tiên, sáng sớm ngày Chủ nhật 25 tháng 6 năm 1950,
quân đội Bắc Hàn đã vượt qua vĩ tuyến 38, mở màn cho cuộc chinh phạt
nhằm tiêu diệt chính phủ Nam Hàn. Liên Hiệp Quốc, đứng đầu là Hoa Kỳ,
đã kêu gọi các quốc gia thành viên nhanh chóng “đẩy lùi cuộc tấn công có
vũ trang” đó. Truman ngay lập tức đã gửi các lực lượng tới hỗ trợ Hàn
Quốc, và quân đội Hoa Kỳ giờ đây được gọi với cái tên Quân đội Liên Hiệp
Quốc (The U. N Army). Truman tuyên bố: “Việc can thiệp bằng vũ lực đối
với các vấn đề quốc tế một lần nữa sẽ khiến chúng ta phải đối mặt với
những hậu họa khôn lường. Hoa Kỳ nguyện tiếp tục dốc sức bảo vệ sự
nghiêm minh của công lý.”
Lời tuyên bố “bảo vệ sự nghiêm minh của công lý” đó của nước Mỹ đã biến
bán đảo Triều Tiên, cả miền Nam và miền Bắc, thành một lò sát sinh, thành
một bãi chiến trường “nồi da nấu thịt” trong suốt ba năm trời. Napalm rải
thảm và một phóng viên của đài BBC đã mô tả lại: