LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 667

dựng các cơ sở vật chất chuẩn bị cho chiến tranh sẽ là ngành kinh doanh lớn
nhất trên toàn nước Mỹ, ít nhất là trong những giai đoạn sắp tới.”

Dự đoán này rốt cuộc đã trở thành sự thật. Ngay từ đầu năm 1950, tổng
ngân sách của Hoa Kỳ ước đoạt vào khoảng 40 tỷ đô-la, trong đó chi phí
cho quân đội chiếm khoảng 12 tỷ đô-la. Tuy nhiên, cho tới năm 1955, con
số đó lên tới 40 tỷ đô-la trên tổng số 62 tỷ đô-la ngân sách. Hàng loạt hoạt
động mạnh mẽ phản đối việc đầu tư quá lớn cho ngân sách quốc phòng do
Liên đoàn phản chiến và các nhóm phản kháng khác đã nổ ra, tuy nhiên họ
đã thất bại trong việc ngăn chặn nó.

Năm 1960, chi phí đầu tư cho quân đội là 45,8 tỷ đô-la – chiếm 49,7% tổng
ngân sách quốc gia. Cũng trong năm đó, John Kennedy chính thức trở thành
Tổng thống thứ 35 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, ngay lập tức ngân sách chi
cho quân đội bất ngờ tăng đột biến. Theo Edgar Bottome (trong cuốn The
Balance of Terror
– Sự cân bằng của nỗi khiếp đảm), trong vòng 14 tháng,
chính quyền của Kennedy đã bổ sung thêm 9 tỷ đô-la cho các quỹ quốc
phòng.

Năm 1962, sau một loạt những khám phá tình báo thu lượm được về việc
Liên Xô tăng cường vũ trang, điển hình là “sự chênh lệch về máy bay ném
bom” và “khoảng cách trong vũ khí tên lửa” giả tạo, nước Mỹ đã chiếm
được ưu thế trong cuộc chạy đua về vũ khí hạt nhân. Hệ quả tương ứng là
số lượng vũ khí nguyên tử, ước tính có sức công phá bằng 1.500 quả bom
được thả xuống Hiroshima, đủ để san phẳng mọi thành phố trên thế giới, đã
được tạo ra trong suốt thời gian diễn ra cuộc chạy đua vũ trang. Điều đó
cũng có nghĩa là chia đều ra mỗi người đàn ông, phụ nữ và trẻ em trên Trái
đất sẽ phải hứng chịu 10 tấn thuốc nổ TNT. Để sử dụng hết số bom đó,
nước Mỹ đã phải chế tạo hơn 50 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, 80 tên lửa
hoặc tàu ngầm hạt nhân, 90 tên lửa cung cấp cho các căn cứ ở nước ngoài,
1.700 máy bay ném bom có khả năng tiến tới không phận của Liên bang