LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 668

Xôviết, 300 hàng không mẫu hạm chuyên chở các phi cơ ném bom và vũ
khí nguyên tử, cùng 1.000 máy bay tiêm kích siêu thanh mang đầu đạn hạt
nhân.

Liên bang Xôviết cũng không kém phần trong cuộc chạy đua đó – họ đã chế
tạo từ 50-100 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, gần 200 máy bay ném bom tầm
xa. Song ngân sách của Hoa Kỳ không ngừng tăng lên, các gói kích cầu
cũng tiếp tục được duy trì, lợi nhuận của các tập đoàn có đơn đặt hàng liên
quan đến quốc phòng tăng lên theo cấp số nhân, không những thế, việc làm
và tiền công cũng không ngừng được nâng cao đủ để duy trì một số lượng
đáng kể người dân Mỹ sống phụ thuộc vào các ngành công nghiệp chiến
tranh. Tính đến năm 1970, tổng ngân sách chi dùng cho quân sự của nước
Mỹ ước đoạt khoảng 80 tỷ đô-la và các tập đoàn tham gia trong dây chuyền
sản xuất phục vụ cho quân đội kiếm được khoản lợi nhuận vô cùng béo bở.
2/3 trong số 40 tỷ đô-la chi dùng cho các hệ thống vũ khí được chia đều cho
12 đến 15 tập đoàn công nghiệp hàng đầu nước Mỹ, những công ty lấy việc
thỏa mãn các bản hợp đồng quân sự làm nền tảng tồn tại. Thượng nghị sỹ
Paul Douglass, một nhà kinh tế học đồng thời là chủ tịch Ủy ban Liên kết
Kinh tế thuộc Thượng viện (Joint Economic Committee of the Senate), đã
chỉ ra: “6/7 số hợp đồng đó là chỉ định thầu... Để đảm bảo bí mật quân sự,
chính phủ thường lựa chọn một tập đoàn có tiềm năng và ký hợp đồng sau
các cuộc đàm phán bí mật.”

C. Wright Mills, trong tác phẩm viết về những năm 1950 mang tên The
Power Elite
(Tinh hoa quyền lực), đã xếp quân đội vào hàng có quyền lực
cao nhất trong xã hội, kế đó là các chính trị gia và các tập đoàn kinh tế.
Những nhóm người đó ngày càng gắn bó khăng khít với nhau. Một thượng
nghị sỹ đã báo cáo rằng có tới hơn 2.000 cựu sỹ quan cao cấp của quân đội
đang làm việc trong 100 nhà thầu quốc phòng lớn nhất − các tập đoàn nắm
giữ 67,4% các bản hợp đồng quân sự. Trong khi đó, đi kèm với việc viện
trợ kinh tế cho nhiều quốc gia khác, nước Mỹ đã và đang thiết lập một