mạng lưới các tập đoàn kiểm soát kinh tế toàn cầu, qua đó áp đặt tầm ảnh
hưởng chính trị lên các quốc gia mà nó viện trợ. Điển hình là bản Kế hoạch
Marshall năm 1948, trong đó cho phép thông qua gói viện trợ kinh tế trị giá
16 tỷ đô-la cho các quốc gia Tây âu trong vòng 4 năm. Kế hoạch này được
xây dựng với một mục đích chính trị là: thiết lập thị trường xuất khẩu cho
nước Mỹ. George Marshall (tướng lĩnh quân đội, sau trở thành Ngoại
trưởng Mỹ) đã trích dẫn một báo cáo đầu năm 1948 của Bộ Ngoại giao như
sau: “Giờ còn quá sớm để nghĩ rằng châu âu, bằng những cố gắng của riêng
mình... sẽ duy trì chính sách mở cửa với các doanh nghiệp Mỹ giống như
trong quá khứ.”
Bản Kế hoạch Marshall cũng bao hàm một động cơ chính trị. Trong thời
điểm các đảng Cộng sản ở Italia và Pháp đang ngày càng phát triển mạnh,
nước Mỹ đã quyết định sử dụng sức mạnh của đồng tiền để gạt bỏ các thành
viên của đảng này ra khỏi nội các của những quốc gia kể trên. Ngay khi kế
hoạch được tiến hành, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dean Acheson đã phát
biểu: “Các biện pháp cứu trợ và tái thiết chỉ là một phần của lòng nhân đạo.
Quốc hội của các bạn ra quyết định và chính phủ là người thi hành, ngày
nay, chính sách viện trợ và tái thiết chủ yếu là vì lợi ích quốc gia.” Từ năm
1952 cho đến nay, việc không ngừng tăng cường các khoản viện trợ nước
ngoài vốn chỉ nhằm mục đích tạo dựng sức mạnh quân sự ở các nước không
thuộc phe Cộng sản. Trong 10 năm tiếp theo, nước Mỹ đã viện trợ không
dưới 50 tỷ đô-la cho 90 quốc gia, trong đó chỉ có 5 tỷ đô-la được sử dụng
cho các mục tiêu kinh tế phi quân sự. Ngay khi lên nắm quyền Tổng thống,
John F. Kennedy đã phát động chương trình Liên minh vì Tiến bộ nhằm
giúp đỡ các nước châu Mỹ Latinh, trong đó nhấn mạnh cải cách xã hội và
cải thiện đời sống của người dân. Song trên thực tế, đó thực chất là gói viện
trợ quân sự nhằm duy trì quyền lực của chế độ độc tài cánh hữu và cho
phép các quốc gia này ngăn chặn sự nổi dậy của phong trào Cách mạng.