Các đảng Dân chủ − Cộng hòa, Tự do – Bảo thủ đã đồng lòng nhất trí sẽ
ngăn chặn cũng như sẵn sàng lật đổ mọi chính quyền cách mạng bất cứ khi
nào có thể cho dù đó là chính quyền Cộng sản, Xã hội chủ nghĩa hay dám
chống lại tập đoàn United Fruit. Và sự đồng thuận đó đã phát huy tác dụng
tại Cuba năm 1961. Năm 1959, tại hòn đảo nhỏ cách vùng biển ngoài khơi
Florida 90 dặm này, một nhóm quân giải phóng dưới sự lãnh đạo của Fidel
Castro đã tiến hành một cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài của Fulgencio
Batista – người được nước Mỹ hậu thuẫn. Cuộc cách mạng đã đe dọa
nghiêm trọng tới lợi ích của nước Mỹ. Chính sách Good Neighbor (Láng
giềng thân thiện) của Franklin D. Roosevelt đã giúp bãi bỏ Tu chính án Platt
(trong đó cho phép Hoa Kỳ can thiệp vào Cuba), tuy nhiên nước Mỹ vẫn
duy trì một căn cứ hải quân tại Guantanamo, Cuba và các tập đoàn kinh
doanh của Hoa Kỳ tiếp tục duy trì vị thế thống trị chi phối nền kinh tế của
quốc gia này. Có đến 80-100% các tiện ích kinh tế, hầm mỏ, trại chăn thả
gia súc và nhà máy lọc dầu thuộc quyền kiểm soát của giới doanh nghiệp
Mỹ. Ngoài ra, các công ty này còn nắm trong tay khoảng 40% ngành công
nghiệp đường và 50% ngành công nghiệp đường sắt công cộng của Cuba.
Năm 1953, Fidel Castro bị bắt giam sau khi dẫn đầu một đội quân tập kích
thành công vào một doanh trại quân đội tại Santiago, Chile. Sau khi thoát
khỏi nhà tù, ông đã lên đường tới Mexico, gặp gỡ Che Guevara − nhà cách
mạng Argentina và quay trở lại Cuba vào năm 1956. Dựa vào các khu rừng
rậm rạp và những đồi núi hiểm trở, lực lượng quân đội nhỏ bé của ông đã
tiến hành chiến tranh du kích chống lại đội quân hùng hậu của Batista. Cuộc
đấu tranh ngày càng nhận được nhiều sự ủng hộ của người dân, đoàn quân
du kích của Fidel đã rời các khu vực rừng núi tới mọi miền của đất nước và
cùng nhau tiến về Havana. Ngày đầu năm 1959 chính thức đánh dấu sự sụp
đổ của chế độ độc tài Batista.
Sau khi giành được quyền lực, Castro đã thiết lập một hệ thống chuyên
trách về giáo dục, nhà ở trên khắp cả nước và tiến hành chia lại ruộng đất