cho dân nghèo. Chính phủ đã tiến hành tịch thu hơn 1 triệu hecta đất thuộc
quyền sở hữu của ba doanh nghiệp Mỹ, trong đó bao gồm cả United Fruit.
Cuba cần một khoản ngân sách lớn để tiến hành các chương trình đó và
chính phủ Mỹ, dĩ nhiên, không chấp nhận cho Cuba vay khoản tiền đó. Quỹ
Tiền tệ quốc tế, chủ yếu được điều hành bởi Hoa Kỳ, đã từ chối viện trợ cho
Cuba với lý do chính phủ nước này không chấp nhận các chính sách “ổn
định” do quỹ đề xuất. Ngay khi Cuba ký hiệp định thương mại với Liên
bang Xôviết, các công ty lọc dầu thuộc sở hữu của Mỹ tại Cuba đã phản
ứng bằng cách từ chối tinh lọc số lượng dầu nhập về từ Liên xô. Castro đã
nhanh chóng cho phong tỏa các công ty này. Đáp trả lại, nước Mỹ đã cắt
giảm sản lượng đường nhập khẩu từ Cuba. Điều này ảnh hưởng khá nặng
nề đến nền kinh tế của Cuba vốn phụ thuộc phần lớn vào xuất khẩu đường.
Tuy nhiên, Liên Xô đã chấp nhận cứu trợ nước này bằng cách mua lại 700
nghìn tấn đường mà Hoa Kỳ đã từ chối không nhập khẩu.
Cuba đã thay đổi và chính sách Láng giềng thân thiện tỏ ra không còn hiệu
quả nữa. Mùa xuân năm 1960, Tổng thống Eisenhower đã bí mật chỉ thị cho
Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) tiến hành tại Guatemala: huấn luyện
và trang bị vũ khí cho các đạo quân lưu vong chống lại Fidel, nhằm tiến
hành các hoạt động xâm chiếm Cuba trong tương lai. Tính đến thời điểm
Kennedy nhậm chức vào mùa xuân năm 1961, CIA đã có trong tay 1.400
quân lưu vong được huấn luyện kỹ càng và trang bị đầy đủ. Kennedy quyết
định triển khai tiếp kế hoạch của người tiền nhiệm và vào ngày 17 tháng 4
năm 1961, lực lượng quân lưu vong, với sự hỗ trợ của quân đội Mỹ, đã đổ
bộ xuống Vịnh Con Heo phía nam vùng bờ biển của Cuba, cách Havana 90
dặm. Quân phiến loạn hy vọng rằng cuộc chiến sẽ khơi dậy một làn sóng
chống lại Fidel, song họ đã nhầm. Cuba giờ đây là một thể chế thống nhất
nên việc có biến loạn là điều không thể. Chỉ trong vòng ba ngày, lực lượng
do CIA dày công huấn luyện đã bị quân đội chính quy của Fidel nghiền nát.