đó. Arthur Schlesinger nhận xét về động thái này của tờ New York Times
như sau: “Đây là một hành động yêu nước nhưng khi nhìn lại, tôi đã tự hỏi
nếu như các tòa báo hành xử một cách thiếu trách nhiệm thì liệu có phải họ
đang để dành một thảm họa cho quốc gia này hay không?” Trong suốt thời
kỳ chiến tranh Lạnh, điều khiến ông cùng nhiều người theo chủ nghĩa tự do
khác bận tâm không phải là việc nước Mỹ đã và đang can thiệp vào phong
trào cách mạng ở nhiều quốc gia, mà là nước Mỹ luôn luôn thất bại trong
việc dập tắt các phong trào đó.
Tính đến thời điểm năm 1960, những nỗ lực sau 15 năm kể từ khi Chiến
tranh thế giới thứ hai chấm dứt nhằm đập tan chủ nghĩa cộng sản – với sự
bùng nổ của chính sách kinh tế mới và những năm tháng diễn ra chiến tranh
– dường như đã phát huy hiệu quả. Đảng Cộng sản đã bị xáo trộn – lãnh
đạo bị bắt giam, các thành viên trong Đảng phải rút vào hoạt động bí mật,
ảnh hưởng của nó lên phong trào của các liên đoàn gần như không còn. Các
phong trào công đoàn tự thân cũng được kiểm soát tốt hơn và có khuynh
hướng trở nên bảo thủ hơn. Chi phí cho quân đội chiếm một nửa ngân sách
quốc gia song vẫn được công chúng hoan nghênh và chấp nhận. Nguy cơ ô
nhiễm chất phóng xạ có khả năng gây nguy hiểm cho sức khỏe con người từ
các vụ thử hạt nhân hoàn toàn không được cảnh báo tới người dân. Ủy ban
Năng lượng Nguyên tử nhấn mạnh rằng những hậu quả chết người do các
thử nghiệm hạt nhân mang lại là hoàn toàn phóng đại và một bài báo đăng
trên Reader’s Digest năm 1955 (tạp chí có số lượng lưu hành lớn nhất nước
Mỹ) đã tuyên bố: “Những câu chuyện đáng sợ về các vụ thử hạt nhân trên
đất nước này là hoàn toàn không bịa đặt.”
Giữa những năm 1950, đề xuất về việc xây dựng các hầm trú ẩn chống
không kích đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của dân chúng; công dân Mỹ
được khuyến cáo rằng những căn hầm như thế sẽ giúp họ tránh được thảm
họa từ bom nguyên tử. Cố vấn chính phủ, khoa học gia Herman Kahn đã
cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề On Thermonuclear War (Chiến tranh