NGUYÊN LÝ THỨ NĂM - Trang 375

doanh số bán cho khách hàng hiện tại, từ đó làm họ phụ thuộc hơn vào một
vài khách hàng chủ chốt.

Nếu những nhà quản lý ở tổng công ty có thể nhìn ra và thảo luận cấu

trúc này, họ có thể làm rõ những lo lắng của họ về ban quản lý của Jim
Tabor hiệu quả hơn. Thay vì vật lộn với việc tìm cách nêu vấn đề thoạt
trông có vẻ phê phán, thiếu ủng hộ các kỹ năng quản lý của Jim Tabor, họ
có thể chỉ đơn giản bày ra hai quá trình phản hồi và tìm hiểu cách mà bất kỳ
ai trong số họ
có thể tự tin hơn về việc giải pháp nền tảng là mở rộng danh
mục khách hàng có được sự quan tâm đầy đủ.

Khi những nguyên mẫu hệ thống được sử dụng trong cuộc trò chuyện

về những vấn đề quản trị phức tạp, có tiềm năng mâu thuẫn, chắc chắn
chúng sẽ “khách quan hóa” cuộc trò chuyện. Cuộc trò chuyện sẽ tập trung
vào “cấu trúc”, những nguồn lực hệ thống đang diễn ra, chứ không phải về
phong cách cá nhân và phong cách quản lý. Những câu hỏi khó khăn có thể
được đưa ra, theo cách thức không ám chỉ về sự bất lực của nhà quản lý hay
mang tính chỉ trích. Thay vào đó, mọi người hỏi “Có phải gánh nặng
chuyển sang bán hàng cho khách hàng hiện tại thay vì mở rộng danh mục
khách hàng?”, “Làm thế nào chúng ta biết điều đó xảy ra?”. Dĩ nhiên điều
này là lợi ích đáng quý của ngôn ngữ về sự phức tạp - nó làm cho việc thảo
luận những vấn đề phức tạp dễ dàng hơn, khách quan hơn và bình thường
hơn.

Nếu không có một ngôn ngữ chung để đương đầu với sự phức tạp, học

tập đội nhóm sẽ bị hạn chế. Nếu một thành viên nhìn ra một vấn đề một
cách hệ thống hơn những người khác, quan điểm của người đó chắc chắn sẽ
bị bỏ qua - không có lý do gì khác ngoài xu hướng thiên về tính chất tuyến
tính trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta. Mặt khác, lợi ích của những
đội nhóm khi đạt đến sự thành thạo ngôn ngữ nguyên mẫu hệ thống là rất
lớn, những khó khăn trong việc năm bắt ngôn ngữ này thực sự được
giảm bớt trong một đội. Như David Bohm nói, ngôn ngữ có tính tập thể.