KINH VÔ LƯỢNG THỌ - ÂM HÁN VIỆT & CHỮ HÁN
569
N
ẾU MUỐN PHẬT PHÁP HƯNG, DUY CHỈ CÓ TĂNG KHEN TĂNG!
ngày n
ữa tôi mới về!”. Khi mấy thương gia này từ Vũ Hán trở về, họ nói với người
dân tr
ấn Bình Thị là ở đầu thành phố Vũ Hán họ gặp được Lão Đức thì mới biết rằng
Lão Đức đã vãng sanh Cực Lạc 2 năm rồi; nhưng mà họ một mực khẳng định nói
r
ằng người họ gặp được là Hòa thượng Lão Đức. Câu chuyện của Hòa thượng Lão
Đức, chúng xuất gia ở Nam Dương không có ai mà không biết. Trong “Đồng Bách
huy
ện chí” cũng có ghi chép lại vị Hòa thượng Lão Đức này: “Hòa thượng Lão Đức,
t
ự Truyền Thực, ở chùa Kim Sơn trấn Bình Thị, bản tính ngây ngô, đi vệ sinh không
bi
ết tránh né người khác, không biết đói khát, đi thẳng về phía trước không quay đầu
l
ại, không dừng lại nhìn, hành tích kỳ lạ khiến người ta khó đoán. Hằng ngày đi hóa
duyên trong thôn, làm trò cười cho phụ nữ và trẻ con, buổi tối lễ bái Vi Đà Bồ-tát, cả
đêm không ngủ, mỗi lần lạy Phật đầu dập xuống đất phát ra tiếng đến nỗi sưng trán,
quanh năm suốt tháng đều như thế, cứ như vậy mười mấy năm. Vào mùa đông năm
1954, b
ị bệnh nằm trên giường, từ chối thuốc thang, mỗi ngày đều hỏi ngày nào là
mùng 8 tháng Ch
ạp, mọi người thành thật trả lời, đến ngày mùng 8 tháng Chạp, Lão
Đức tắm rửa thay y phục, ngồi ngay ngắn niệm Phật viên tịch!”.
Ân sư Thích Tịnh Không giảng:
“Pháp môn Tịnh Độ nếu người nào thật sự
mê tín thì có th
ể vãng sanh Cực Lạc, nếu giả mê tín thì không có cách gì vãng
sanh!”; thật sự mê tín chính là khi dạy họ niệm câu “Nam mô A Mi Đà Phật” sẽ
được sanh về thế giới Cực Lạc thành Phật thì họ thật sự tin chắc không một chút
nghi ng
ờ, thật sự muốn vãng sanh Cực Lạc, thật sự muốn thành Phật, thật thà
ni
ệm Phật. Chúng ta không phải Thượng-thượng-căn, cũng không phải Hạ-hạ-căn
đầy đủ hai chữ “Hiếu - Kính”; nhà Phật gọi hạng người như chúng ta là loại lơ mơ ở
gi
ữa, loại này chiếm đa số trong Phật pháp, lại rất khó độ vì nghi hoặc quá nhiều, tâm
không th
ật thà; loại người này phải sám hối nghiệp chướng và nghe giảng kinh rất
nhi
ều mới hóa giải hết nghi hoặc và nâng căn tánh ngu muội lên từ từ, căn tánh được
nâng lên
đến một mức độ nhất định thì sẽ có thành tựu trong Phật pháp.
2/ Nh
ẫn-nhục Bồ-tát, tấm gương niệm Phật vãng sanh Cực Lạc: Đại lão Hòa
thượng Thích Hải Khánh (Sư đệ của Đại lão Hòa thượng Thích Hải Hiền)
Pháp sư Hải Khánh, họ Lý, húy Phú Quý. Tổ tiên ngụ tại huyện Tất Dương
c
ủa Đông Nam tỉnh Hà Nam. Sinh vào năm Tuyên Thống cuối triều Thanh (năm
1909). Vì sinh ra trong gia đình nghèo khó nên chưa từng được đi học, nhưng thiên
tánh nhân h
ậu, sống hiền hiếu, biết lễ nghĩa. 11 tuổi Pháp sư Truyền Đông thế độ xuất
gia
ở chùa Thanh Lương - núi La Hán - Nam Dương, 42 tuổi vào thường trụ ở chùa
Ph
ật Lai, chuyên tu Tịnh Độ, thật thà niệm Phật. Năm 1989 thọ Cụ-túc Giới tại chùa
B
ạch Mã. Ngày 11 tháng Chạp năm 1991 âm lịch, tự tại vãng sanh Tây Phương.
Hưởng thọ 82 tuổi, Tăng-lạp 71 năm. Y theo quy tắc của nhà Phật, sau khi Ngài vãng
sanh s
ẽ để Ngài vào chum lớn. Đa số là sau 3 năm mở chum, nếu như thân thể không
ho
ại thì lưu toàn thân, thân thể hoại rồi thì hỏa táng an táng lần nữa.