bắt tôi chui vào tử cung chó rồi sắp hàng cùng với ba con chó khác tuần tự chui ra khỏi
bụng chó mẹ.
Cái ổ chó này quả thực sơ sài. Dưới hiên nhà, người ta dùng gạch xây hai bức tường
cao khoảng một mét, phía trên gác ngang mấy thanh gỗ nhỏ rồi phủ một lớp giấy dầu
lên trên. Đây vốn là chỗ ở của chó mẹ - không có cách nào khác, từ bụng nó chui ra
đành gọi nó bằng mẹ thôi!
Tuyết rơi đầy trời, trên đất đã đọng một lớp dày. Ổ của chúng tôi được ánh đèn điện
từ hiên nhà chiếu sáng. Nằm trong chiếc ổ lót bằng lá khô, tôi ngắm nhìn những bông
tuyết lơi lả tả phía ngoài. Lạnh quá, tôi run lên bần bật. Tôi cố chen vào giữa các anh
chị em để ấm hơn, họ cũng chẳng chịu thua, chen lấn và kêu lên inh ỏi. Sau mấy bận
luân hồi, tôi nhận ra một chân lý đơn giản: Nhập gia tùy tục. Sinh ra trong chuồng lợn
mà không bú lợn nái thì chết, sinh ra trong ổ chó mà không chen vào để bú chó mẹ
cũng sẽ chết. Mẹ tôi rất to lớn, lông trắng nhưng hai chân trước và đuôi lại màu đen. Rõ
ràng đây là một con chó lai. Bố tôi là loài bec-giê Đức chính hiệu, to lớn và hung dữ,
lưng và đuôi đen sậm, bụng và chân màu vàng thẫm. Sau này tôi đã có dịp gặp chó bố,
nó - cứ gọi là bố vậy - đang bị xích ngay tại cổng xưởng chế biến tương ớt “Hồng”.
Thức ăn của chó bố rõ ràng là được lấy về từ những đồ thừa trong các bữa tiệc: Một
con gà chỉ mất cặp đùi, một con cá chỉ mất cái đuôi, có cả một chiếc mai rùa. Nhưng
dường như chó bố chẳng thèm để ý gì đến những của ấy. Đôi mắt của chó bố trông rất
hung dữ, màu vàng và đầy những sợi máu li ti, đôi tai nhọn dỏng lên, gương mặt trông
rất gian hiểm và bạo tàn.
Bố thuần chủng, mẹ lai, đương nhiên chúng tôi là một lũ lai tạp. Tuy khi lớn lên,
hình dáng của chúng tôi có khác nhau ít nhiều, nhưng lúc này rất khó phân biệt, chỉ có
Nghinh Xuân là nhớ được thứ tự của từng đứa khi lọt khỏi bụng chó mẹ mà thôi.
Mẹ ông bê đến một bát cháo xương cho chó mẹ. Mùi cháo thơm lừng, khói bốc nghi
ngút làm mờ gương mặt, hoa tuyết bám đầy trên tóc bà ấy. Mắt tôi còn kèm nhèm lắm
nên không thể nhìn rõ khuôn mặt mẹ ông, nhưng tôi ngửi được mùi vị quen thuộc trên
thân thể bà. Trong khi chó mẹ từ tốn liếm cháo thì bà lấy lược chải tuyết bám trên
người của nó, rồi cẩn thận dọn sạch tuyết trên tấm giấy dầu. Bà ấy là nông dân, lẽ nào
không biết tuyết là tấm chăn ấm đắp cho đất, tất nhiên cũng là tấm chăn đắp trên ổ chó
của chúng tôi. Người đàn bà ngốc nghếch này nhiều kinh nghiệm nuôi con, song thiếu
trầm trọng những kiến thức khoa học. Nếu bà ta cũng học rộng biết nhiều như tôi, biết
người Eskimo ở trong những chiếc hầm đắp bằng tuyết, bà ấy sẽ không dọn tuyết trên
mái ổ của chúng tôi. Đến lúc trời sắp sáng, chúng tôi rét cóng. Nhưng thế mà lại hóa