đội mũ sắt. Trước vẻ can trường điềm tĩnh thấy rõ ấy, trong lòng Joseph,
những ray dứt mơ hồ về mặc cảm đắc tội và ân hận càng ngày càng nhiều
suốt hai ba năm nay lúc này bỗng dưng kịch liệt thêm.
Chiếc Dakota vừa chửng bánh, Joseph lao mình ra cửa máy bay, khom
người chạy thật lẹ về phía xe díp. Tài xế cho xe chạy chậm lại ứng nhịp với
bước chân người đi bộ để Joseph có thể vọt lên xe. Sau đó, tài xế quành xe,
chạy một mạch về những căn hầm kiên cố của bộ chỉ huy được lập sâu dưới
mặt đất hai thước.
Túm bàn tay viên trung tá Pháp bằng cả hai tay mình, Joseph thét lớn:
- Tôi cứ tưởng thung lũng này là một pháo đài rất vững chắc!
- Nó đúng là thế, ông bạn ạ, tôi bảo đảm với anh.
Paul Devraux trả lời, cười miệng rộng tận mang tai và hét thật to, cố át
tiếng đạn pháo đang gầm rú, để cho Joseph nghe ra anh đang nói cái gì:
- Đừng lo! "Người Mỹ đa tình" sẽ không bị bắn rớt lại đây hai hòn bi ngọc
ngà đâu - bọn chúng không cách gì lập nổi hàng rào hỏa lực thật sự hữu
hiệu bằng mấy khẩu 75 li nhỏ xíu thứ ống thổi hột đậu của con nít đó!
Khi xe díp rít lên ken két rồi ngừng bánh trước giao thông hào dẫn xuống
hầm trú ẩn kiên cố của Paul, từ chốn mịt mù bụi trồi ra một chi đoàn xe
tăng ầm ầm chạy ngang chỗ hai người. Paul chỉ hướng đông bắc và nói:
- Xe thiết giáp lên đường để xử mấy khẩu sơn pháo nơi các chân đồi đằng
kia. Chỉ chút nữa thôi bọn chúng sẽ câm họng. Nếu anh muốn, chúng ta có
thể đứng lại đây quan sát.
Một hai phút sau, Joseph và Paul nghe tiếng nổ rất sâu của các khẩu pháo
trên xe tăng từ đầu kia lòng chảo vọng lại, rồi cuộc pháo kích của Việt
Minh xuống phi đạo thình lình tắt tịt. Paul nói với vẻ hả hê và đưa tay trìu
mến quàng qua vai Joseph:
- Anh thấy chưa, tôi nói có đúng không? Đây không phải chỗ an toàn nhất
trên toàn cõi Đông Dương thì nó là cái gì?
Joseph cười đáp trả nhưng không thể ngăn nổi mình cứ thỉnh thoảng lại đưa
mắt nghi ngại nhìn lên các đỉnh núi bên trên thung lũng. Viên sĩ quan Pháp
cười lớn rồi làm điệu bộ hoa tay nửa vòng, ra hiệu mời Joseph đi trước vào
hầm: