quốc châu Âu. Phái viên Thụy Sĩ “trú ngụ ở cửa hàng của một thợ dệt len,
trong một căn phòng nồng nặc mùi xúc xích và dầu cá,” trong khi phái
đoàn xứ Bavaria chỉ có 18 giường cho 29 thành viên của họ. Không có chủ
tọa hay người điều phối hội nghị chính thức và không có những phiên họp
toàn thể, các đại diện nhóm họp đột xuất và đi lại trong vùng trung lập giữa
hai thị trấn để tìm kiếm thỏa hiệp, đôi khi gặp gỡ không chính thức tại các
địa điểm ở giữa hai thị trấn này. Một số cường quốc cử đại diện có mặt ở cả
hai thị trấn. Giao tranh vẫn tiếp tục ở những vùng khác nhau của châu Âu
trong suốt các cuộc đàm phán, với tình hình chiến sự liên tục thay đổi tác
động đến quá trình đàm phán.
Hầu hết các đại biểu đến dự đều mang theo những chỉ thị rất thực tế
dựa trên lợi ích chiến lược. Trong khi họ sử dụng những cụm từ cao thượng
gần như giống hệt nhau về việc đạt được một “nền hòa bình cho Ki-tô
giáo,” quá nhiều máu đã đổ để thai nghén việc đạt được mục tiêu cao cả
này thông qua sự thống nhất về tín lý hay chính trị. Giờ đây ai cũng cho là
đương nhiên, hòa bình (nếu có) sẽ được xây dựng thông qua sự cân bằng
các lực lượng đối địch.
Có lẽ Hòa ước Westphalia nổi lên từ những thảo luận phức tạp này là
tài liệu ngoại giao được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử châu Âu, dù trên
thực tế không hề có hiệp ước duy nhất nào để thể hiện các điều khoản của
nó. Và các đại biểu cũng chưa từng nhóm họp trong một phiên họp toàn thể
để phê chuẩn nó. Trên thực tế, Hòa ước là kết hợp của ba hiệp định bổ sung
lẫn nhau được ký kết riêng biệt tại những thời điểm khác nhau ở các thị trấn
khác nhau. Trong Hòa ước Münster tháng Một năm 1648, Tây Ban Nha
công nhận nền độc lập của Cộng hòa Hà Lan, khép lại cuộc nổi dậy kéo dài
80 năm của người Hà Lan, cuộc nổi dậy đã hợp nhất với cuộc Chiến tranh
Ba mươi năm. Tháng Mười năm 1648, các nhóm riêng biệt của các cường
quốc đã ký Hòa ước Münster và Hòa ước Osnabrück, với những điều kiện
tương tự nhau cũng như tham chiếu và hợp nhất những điều khoản chủ yếu.
Cả hai hòa ước quốc tế đa phương quan trọng này tuyên bố ý định là
“một nền hòa bình và tình bằng hữu Ki-tô giáo, phổ quát, bất diệt, đích
thực và chân thành” cho “vinh quang của Thiên Chúa và an ninh của Ki-tô