chinh Pháp ở hải ngoại. Sau khi Mỹ tham chiến, ông chuyển sang đội quân
viễn chinh Mỹ. Tại đây, ông trở thành thượng uý và đồng thời làm biên tập
viên một tờ báo dành cho binh sĩ Mỹ. Đến cuối chiến tranh, ông được tặng
thưởng huân chương Thập Tự chiến đấu, huy chương của Pháp và được cấp
giấy chứng nhận không có khả năng lao động do thương tật.
Năm tháng trôi qua. Năm 1936, William Corcoran đến Thuỵ Điển và
đảm nhận một chức vụ khiêm nhường là tổng lãnh sự ở thành phố
Gorteborg. Nhiệm vụ của ông là cấp visa, đăng ký kết hôn và thừa kế,
nhưng thực ra ông là điệp viên của cơ quan tình báo Mỹ. Ông bắt đầu làm
việc cho tình báo Mỹ trước khi đến Thuỵ Điển khá lâu.�Ông đã từng đến
Cancutta, Bombay, Madras, Varsava, Angie, Gibranta, Giamaica và Tây
Ban Nha. Ông là "con sói cô độc", hoạt động một mình, không có cấp trên
và cấp dưới, có thể nói ông là "điệp viên tự thân".
Nhờ tính xởi lởi, quảng giao, ông có nhiều bạn bè người Thuỵ Điển.
Với sự giúp đỡ của họ, ông đã làm quen được với thuyền trưởng của tất cả
những con tàu đi lại giữa Thuỵ Điển và Đức. Bởi vậy ông có đầy đủ thông
tin về tình hình các cảng thuộc biển Baltic. Một lần cơ quan phản gián Đức
nghe nói đến những mối liên hệ bí mật của lãnh sự Mỹ và gửi công hàm
phản kháng đến nhà cầm quyền Thuỵ Điển. William Corcoran bị khiển
trách nhẹ, nhưng chính Thuỵ Điển cũng thực sự quan tâm đến những gì
đang xẩy ra trên bờ biển Baltic, bởi vậy, việc khiển trách kia chỉ mang tính
chất thuần tuý hình thức, và người Thuỵ Điển hoàn toàn không can thiệp
vào hoạt động của William.
Nhưng ông thay đổi chiến thuật. Nhờ quen biết các chủ tàu và các
thuyền trưởng, ông thiết lập được mối tiếp xúc với các thuỷ thủ, các thợ
máy, các đầu bếp, các chiêu đãi viên, và ông bắt đầu được họ cung cấp tin
tức.
Vài tháng sau, ông vén được một bức màn bí mật mà lúc đầu ông không
thể xâm nhập nổi. Những người ông quen biết kể cho ông nghe về hàng