“Đây là Alaska hay sao ấy?” Rachel la lên, phun khói phı̀ phò ra giữa
hai môi.
<Chắc vâ ̣y quá,> Tobias đáp. <Cách đây khoảng mô ̣t dă ̣m mı̀nh trông
thấy mô ̣t căn cứ hay mô ̣t thi ̣ trấn gı̀ đó. Ồ, rất nhiều tòa nhà bằng kim loa ̣i
xám ngắt, dơ ̣n sóng. Có mô ̣t cái chảo lớn gắn vào mái nhà - hı̀nh như là
thiết bi ̣ thu qua vê ̣ tinh. Mı̀nh biến hı̀nh đây, chứ không khéo la ̣i bi ̣ đưa đến
khu thư ̣c phẩm, đă ̣t bên mấy con gà đông la ̣nh thı̀ nguy…>
Khu căn cứ lờ mờ hiê ̣n ra tuốt phı́a xa. Bên phải tôi là mô ̣t vũng nước
đã đóng băng mô ̣t nửa, trên bề mă ̣t của nó có những đường dı́ch dắc do
băng nứt. Chếch về bên trái, cách bờ biển mô ̣t trăm thước, là mô ̣t dãy đá
lô ̣ thiên khổng lồ, lởm chởm - chân mô ̣t dãy núi ba ̣t ngàn, trải dài ngút tầm
mắt, không cây cối, chẳng cỏ hoa, chı̉ có mô ̣t đı̉nh núi đen thùi in trên nên
tuyết trắng.
<Hổng phải Hawaii, cũng chẳng phải Caribbean.> Tôi nói, cố quên đôi
bàn chân khı̉ đô ̣t của mı̀nh đang đóng băng ta ̣i chỗ.
<Ối!> Cassie rên rı̉. <Mı̀nh chưa bao giờ la ̣a ̣a ̣nh thếế nààày! Mı̀nh là
sói mà. Mı̀nh la ̣a ̣a ̣nh quááá!>
<Tobias!> Rachel kêu thất thanh.
Tobias đô ̣t nhiên xu ̣m xuống, lăn đùng ra băng, đôi cánh đâ ̣p yếu ớt.
<Mı̀nh không thể… bay… cũng không thể… biến hı̀nh đươ ̣c nữa…
la ̣a ̣nnh quáá…>
Rachel ôm lấy Tobias, hấp tấp dùng bàn tay nửa người nửa gấu xám xoa
xoa vào ngực câ ̣u ta cho ấm lên. Nhỏ biến hı̀nh to lên trong khi vẫn áp
Tobias vào bô ̣ lông gấu dày xu ̣ của mı̀nh.
Tôi đâ ̣p hai bàn tay vào nhau, cố xoa bóp để lấy la ̣i cảm giác ở mấy
ngón tay. Tôi nhı̀n lên và trông thấy tàu Lưỡi Rı̀u - mô ̣t hı̀nh thù đen trùi
trũi i ̣n vào mây.
<Hắn không trở la ̣i đây mà hướng về phı́a căn cứ,> Ax nhâ ̣n xét.
Điều đó khiến tôi thấy khá hơn. Nhưng không ai, dù chı̉ mô ̣t phút, nghı̃
rằng hắn cứ để tu ̣i tôi thoát dễ dàng như thế.
Rõ rồi, Visser Ba chẳng viê ̣c gı̀ phải vô ̣i vã. Không như tu ̣i tôi, hắn
rành rẽ nơi này. Và hắn biết, tu ̣i tôi cũng chẳng cha ̣y đươ ̣c xa.