Đôi mắt sói của tôi đu ̣ng trúng ngay mô ̣t chấm đen.
Lỗ mũi của nó.
Rồi thêm hai chấm đen nữa ở bên trên.
Mắt nó.
Mũi và mắt cùng chuyển đô ̣ng. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, những
phần cơ thể còn la ̣i của nó từ từ hiê ̣n ra. Mô ̣t khối tổ chảng màu trắng ngà.
<Gấu trắng Bắc Cư ̣c!> Cassie thı́ch chı́ hét lên. <Vâ ̣y là tu ̣i mı̀nh đang
ở Bắc Cực chứ không phải Nam Cực.>
<Tôi đã nói với các ba ̣n là chúng ta đi về phı́a Bắc mà,> Ax nói gióng
giả từ đâu đó trong bô ̣ lông sói của Jake.
Thiê ̣t là kỳ khôi. Sinh vâ ̣t này ba ̣n chı̉ từng nhı̀n thấy trên tivi hoă ̣c trong
vườn bách thú mà thôi: mô ̣t con gấu trắng Bắc Cực đang ngồi chầu hẩu
trên băng tuyết, tư ̣ gãi cho mı̀nh.
Tu ̣i tôi đứng im thin thı́t, chăm chắm nhı̀n nó. Nó ngừng gãi và cũng đưa
mắt dòm la ̣i. Nó hı́t hı́t không khı́ rồi nhấc cái mông bự chàng dàng lên, lăn
bốn cái chân mâ ̣p thù lù về phı́a tu ̣i tôi.
<Mı̀nh nghı̃ chú chàng này sẽ không phải là bữa tối của tu ̣i mı̀nh đâu,>
Rachel xı̀ xào.
<Cá hai ăn mô ̣t, tu ̣i mı̀nh sẽ là bữa chén của nó,> tôi nhất trı́. <Chuồn
thôi. Le ̣ lên!>
<Gấu trắng là cái gı̀ vâ ̣y?> Ax hỏi léo nhéo từ thế giới bo ̣ chét.
<Là gấu trắng,> Cassie thủng thı̉nh đáp. <Loài thú ăn thi ̣t to xác nhất thế
giới!>
<Bồ nói nó là loài thú ăn thi ̣t to nhất hả?> Rachel phải đối, như thể
Cassie vừa mới ha ̣ thấp nhỏ. <Mı̀nh nghı̃ cái danh hiê ̣u đó phải dành cho
gấu xám mới đúng chứ!>
<Gấu xám không thâ ̣t sự là loài thú ăn thi ̣t. Thâ ̣t ra bồ chı̉ ăn trái dâu
thôi,> Cassie trả lời. <Với la ̣i, nếu cẩu chúng trên khinh khı́ cầu thı̀ gấu
trắng nă ̣ng hơn gấu xám nhiều, mă ̣c dù trông thấy gấu xám có vẻ đầy đă ̣n
hơn…>
<Nè, thế bồ đã coi bao nhiêu chương tı̀nh TV rồi thế, Cassie?> Tôi hỏi.
<Í, đừng có trả lời, tui thực sự hổng muốn biết đâu.>