<Mı̀nh sẽ bắt nó,> Rachel lầm rầm, nhưng gio ̣ng nhỏ coi bô ̣ không
cương quyết lắm.
<Nó là thú ăn thi ̣t hả?> Jake hỏi. <Mı̀nh tưởng gấu chı̉ ăn cá và trái dâu
thôi chứ.>
<Nhưng không phải gấu trắng,> Cassie nói và dơ ̣m cẳng phóng đi. <Đây
có thể là tin tốt lành cho chúng ta, vı̀ ở đâu có thú ăn thi ̣t thı̀ ở đó có con
mồi.>
Con gấu đuổi theo chúng tôi, cha ̣y phăm phăm trên băng như không.
<Gấu trắng thường ăn gı̀ vâ ̣y?> Jake hỏi.
<Ăn tu ̣i nhóc ngờ nghê ̣ch khoái làm anh hùng,> tôi càu nhàu.
<Hải cẩu,> Cassie đáp. <Và những con khác nữa, nhưng thường là hải
cẩu.>
<Tui chưa bao giờ thấy hải cẩu cả,> tôi nói và phóng cha ̣y hết tốc lực.
Ngoái la ̣i, tôi thấy con gấu đã giảm tốc đô ̣. Rõ ràng, tu ̣i tôi không phải là
mối quan tâm chı́nh của nó.
<Phải rồi, làm sao bồ thấy chúng đươ ̣c,> Rachel dài gio ̣ng. <Bo ̣n hải
cẩu thấy gấu trắng ở đâu là lẩn như cha ̣ch ngay!>
<Nào, hãy trở la ̣i đề tài này,> Jake bảo. <Chı́nh xác là tu ̣i mı̀nh phải ăn
cái gı̀?>
<Thử ăn cá coi,> tôi gơ ̣i ý.
<Mı̀nh sẽ dùng lốt gấu xám và ăn cá, hả?> Rachel nói.
<Mı̀nh e bồ không làm nổi đâu,> Cassie can. <Gấu xám bắt cá ở suối.
Mı̀nh nghı̃ ở nơi này cá không sán vào gần bờ cho bồ bắt đâu.>
<Tuyê ̣t cú mèo!> Tôi la lên. <Vâ ̣y là tu ̣i mı̀nh cứ cha ̣y tiếp cho đến khi
chết đói thı̀ thôi. Sao không? Tất cả sẽ ổn thỏa mà.>
Tı̀nh thế bỗng trở nên vô vo ̣ng: gấu trắng ở bên phải, đằng sau là
Venber và bao quanh là cái la ̣nh. Bây giờ bầu trời gần như tối đen rồi.
Nhiê ̣t đô ̣ bắt đầu ha ̣ khủng khiếp. Gió thổi thông thống.
<Tốt nhất là chúng ta nên tı̀m nơi nào đó để trú ẩn trong đêm nay,> Jake
nói.
<Mı̀nh thiê ̣t là lấy làm an lòng khi có các ba ̣n người Chee đang đóng
giả tu ̣i mı̀nh ở nhà,> Cassie nói. Thường thı̀ Cassie biết điều gı̀ là nên nói.